Ớt chuông vàng

1. Đặc điểm thực vật học: 

Ớt chuông vàng trồng nhiều ở châu Âu, châu Mỹ. Vài năm gần đây có nhiều giống du nhập và trồng khá phổ biến tại Lâm Đồng.

Ớt ngọt là cây hàng năm, từ một gốc có thể phát triển thành bụi cây nhỏ gọn thẳng, có thể đạt chiều cao tối đa là 4m. Trái được hình thành từ một bông hoa duy nhất phát triển trong góc giữa lá và thân cây. Tùy giống ớt chuông vàng khác nhau về hình dạng và màu sắc, ớt chuông vàng dùng để ăn sống, nấu chín hoặc chế biến. Không phải tất cả các giống ớt chuông vàng nhẹ hương vị, một số có thể là cay nóng.

2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh: 

Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây là 25-28oC vào ban ngày và 18-20oC vào ban đêm, tối thích cho sinh trưởng là 18-28C. 

Yêu cầu ánh sáng nhiều, nhất là thời điểm ra hoa, thiếu ánh sáng giảm tỷ lệ đậu quả. Ớt chuông vàng có thể phát triển tốt ở nhiều loại đất khác nhau như đất sét nhẹ, đất bazan, đất feralit vàng đỏ,... pH tối thích 5.5-6.5.

Trong điều kiện nhà che nylon ớt chuông vàng có thể trồng được quanh năm.

3. Yêu cầu dinh dưỡng:

Ớt là cây trồng cần phân bón Kali để hình thành quả, nếu thiếu Kali, quả ớt sẽ không rắn, chắc và không đạt độ bóng đẹp.

Phân bổ

Ớt chuông vàng có nguồn gốc ở Mexico, Trung Mỹ, và phía Bắc Nam Mỹ.
 
Hạt ớt chuông  được mang đến Tây Ban Nha vào năm 1493 và từ đó lan rộng khắp các nước Châu Âu, Châu Phi, và Châu Á. Ngày nay, Trung Quốc là nước xuất khẩu ớt chuông đỏ lớn nhất thế giới, theo sau là Mexico và Indonesia, Tây Ban Nha, Mỹ, Nhật Hàn. 

Ở nhiều quốc gia Đông Nam Á cũng trồng nhiều loại cây này như: Indonesia, Thái Lan. Ở Việt Nam ớt chuông vàng được trồng ở nhiều nơi nhưng nổi tiếng nhất ở Đà Lạt, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Vĩnh Phúc đã áp dụng hệ thống nhà lưới, nhà kính vào sản xuất theo hướng hiện đại.

Chăm sóc

1. Giống: 

Tại Lâm Đồng đang sử dụng phổ biến các giống ớt chuông vàng nhập từ Hà Lan như ớt vàng (Baschata)… của công ty Rijk Zwaan. Hạt ươm trong vỷ xốp cho đến đem ra vườn trồng.

2. Chuẩn bị đất:

Chọn đất canh tác:

Cách xa các khu công nghiệp, bệnh viện, nhà máy,… (không gần nguồn nước ô nhiễm và nước thải của các nhà máy, bệnh viện).

Vệ sinh vườn, dọn sạch tàn dư thực vật, cày xới và bón vôi bổ sung để nâng pH lên 5.5-6.6, phơi ải đất từ 1-2 tuần để tiêu diệt một số sâu bệnh hại, sau đó lên luống để bón lót và trồng. Phân bón lót được rải đều trên bề mặt luống, dùng cuốc xăm đều sau đó phủ 1 lớp đất lên bề mặt luống và tưới ẩm đều và tiến hành phủ bạt. Đục lỗ bón phân và lỗ trồng cây.

3. Trồng và chăm sóc:

Mỗi luống trồng 2 hàng, khoảng cách hàng x hàng 50cm, cây x cây 45-50cm. Mật độ trồng 30.000-35.000 cây/ha, trồng theo kiểu nanh sấu, sau khi trồng tưới nước giữ ẩm để cây nhanh phục hồi.

Tưới nước: Sử dụng nguồn nước không bị ô nhiễm, nước giếng khoan, nước suối đầu nguồn, không sử dụng nước thải, nước ao tù, ứ đọng lâu ngày. Tuần đầu tưới nhẹ từ 1-2 lần/ngày, sau đó mỗi ngày tưới 1 lần, nếu trồng vụ mưa tưới ít hơn.

Cắm chói: Sau khi trồng khoảng 2 tuần, cây đã bén rễ, tiến hành cắm choái, mỗi cây cắm một chói và cột cố định cây vào, khi cắm tránh làm long gốc sẽ ảnh hưởng đến cây trồng. Khi cây cao hơn 35 cm thì bắt đầu cắm chói cao và đan dây nylon để giữ cho cây không bị ngã đổ vì mang trái nặng.

Chăm sóc: Thường xuyên loại bỏ lá già, lá bị bệnh dưới gốc. Thực hiện khâu tỉa cành trước lúc ra hoa. Mỗi cây để 4-5 cành.

4. Phân bón và cách bón phân:

Phân bón: Lượng vật tư phân bón tính cho 1ha/vụ như sau:

Phân chuồng hoai: 40-50 m3, phân hữu cơ vi sinh: 1.000kg, vôi bột: 800-1200kg, tùy pH của đất trồng.
Phân hóa học (lượng nguyên chất): 160kg N- 95kg P2O5 - 175kg K2SO4.

Lưu ý: Đổi lượng phân hóa học nguyên chất qua phân đơn hoặc NPK tương đương:

Cách 1: Ure: 348 kg; super lân: 594 kg; KCl: 292 kg.
Cách 2: NPK 15-5-20: 875 kg; Ure: 63 kg; super lân: 320 kg.

5. Thu hoạch, phân loại và xử lý bảo quản sau thu hoạch:

Sau trồng khoảng 3 tháng cho thu hoạch quả lần đầu tiên, khi trái đạt kích thước tối đa, màu sắc chuyển từ màu xanh sang vàng hay đỏ được hơn hai phần trái thì có thể thu hoạch. Ớt cho thu hoạch liên tục 5-6 tháng. Khi thu tránh để trầy xước sẽ làm hỏng và mất phẩm chất của trái.

Thu hoạch tiến hành sau khi ớt đã được cách ly thuốc bảo vệ thực vật, tùy từng loại thuốc có thể từ 7-10 ngày hoặc theo khuyến cáo của nhà sản xuất.

Sản phẩm thu hoạch không bị dính đất, cát, đưa vào két nhựa hoặc giỏ tre theo yêu cầu khách hàng.

 

Món ăn

- Đầu mực xào ớt chuông vàng

- Thịt bò xào ớt chuông vàng

- Ớt chuông vàng nhồi thịt áp chảo

Bệnh

1. Bệnh chết cây con:

Nguyên nhân : bệnh do nhiều loại nấm sinh sống và gây hại trong đất như Rhizoctonia solani, Pythium, Fusarium, Phytophthora spp.

Triệu chứng :

Bệnh xảy ra trong giai đoạn cây con, triệu chứng dễ nhận diện do phần thân cây tiếp giáp với mặt đất bị thối khô có màu nâu đen, cây bị bệnh không đứng thẳng mà ngã sang một bên, lá rũ, cây còi cọc và chết. Bệnh chết cây con thường thấy khi ẩm độ và nhiệt độ cao. Bệnh thường xuất hiện khi gieo quá dầy, tưới nước quá nhiều nhất là khi gieo hạt mùa mưa mà không có giàn che.

Phòng trừ :

- Không lập vườn nơi quá ẩm ướt không thoát nước tốt hay vườn tối, không đủ ánh sáng, nên làm giàn có mái che.

- Đất vườn ươm phải xử lý trước khi gieo như xử lý vôi, đốt rơm rạ, phơi nắng trước khi trồng…

- Nên bón phân hữu cơ đã hoai mục, hạn chế bón nhiều phân hóa học nhất là đạm.

- Luân canh với các cây trồng khác họ cà (cà, ớt, khoai tây) để diệt nguồn bệnh.

- Xử lý hạt giống trư ớc khi gieo : trộn 10 gr thuốc Carbenzim 50WP trong 1 kg hạt giống hay ngâm hạt vào dung dịch nước thuốc với nồng độ 0,1% (pha 1gr thuốc / 1 lít nước) trong1-2 gi ờ.

- Phun thuốc hoá học: Khi thấy cây chớm bệnh phải phun thuốc trừ bệnh ngay, có thể sử dụng các loại thuốc sau : Carbendazim 500 FL, Mexyl MZ 72WP, Alpine 80WP. Nếu cây nhiễm bệnh nặng 5 – 7 ngày phun một lần.

2. Bệnh đốm lá (đốm mắt cua, đốm mắt cua)

Nguyên nhân : do nấm Cercospora capsici.

Triệu chứng :

Đốm bệnh trên lá có dạng đặc trưng hình tròn, viền nâu đậm, tm màu xám nhạt, bệnh xuất hiện rải rác, nếu nặng vết bệnh lan rộng, liên kết lại khiến lá cháy thành từng mảng lớn, khô và rụng. Ngoài lá vết bệnh còn thấy xuất hiện trên thân, cuống hoa. Bệnh thường xuất hiện khi thời tiết nóng, ẩm, nhiệt độ càng cao, lây nhiễm càng nhanh, đất ẩm, trời nhiều sương mù thuận lợi cho bệnh phát triển. Trên ruộng, bệnh có thể phát hiện được sau khi nhiễm 2 – 3 ngày. Bệnh thường gặp trên các cây ớt gìa, cây giai đoạn bén rễ hồi xanh. Cây ớt mạnh khỏe ít bị bệnh.

Phòng trừ :

- Thu dọn và tiêu hủy tàn dư thực vật sau thu hoạch, cày lật đất sớm (do nầm có thể tồn tại trong đất và tàn dư thực vật trong cây bệnh).

- Tăng cường bón phân hữu cơ hoai mục nhất là phân lân và Kali để cây khoẻ.

- Ngắt bỏ lá bệnh (vì bào tử sẽ hình thành trên nấm bệnh sau 5 – 7 ngày).

- Luân canh với cây khác họ cà (như nói trên).

- Dùng hạt giống sạch bệnh.

- Nếu có thể nên tưới vào buổi sáng để lá khô nhanh, can chú ý hạn chế thời gian ẩm của lá.

- Phun thuốc hoá học : Có thể dùng các loại thuốc đặc trị như Alpine 80WP, Mexyl MZ 72WP, Dipomate 80WP. Bệnh nặng phun 5 – 7 ngày / lần.

3. Bệnh thán thư

Nguyên nhân:

Do nấm Colletotrichum gloeosporioides.

Triệu chứng :

Bệnh thán thư khá phổ biến trên ớt, lúc ớt còn trên ruộng hay sau khi thu hoạch. Bệnh có thể xảy ra trên lá nhưng thường thấy trên trái ớt non và ớt chín. Trên trái vết bệnh mới đầu chỉ là một chấm nhỏ, sau lan rộng rất nhanh, vết bệnh lm xuống và có thể thấy các vòng tròn đồng tâm. Bệnh thán thư thường xuất hiện khi thời tiết nóng, ẩm, mưa nhiều, ẩm độ cao, sáng nắng, chiều mưa. Mầm bệnh nầm trong hạt, tàn dư cây trồng, dụng cụ thu hoạch và tồn trữ.

Phòng trừ :

- Sau thu hoạch, thu dọn tàn dư cây trồng, tiêu hủy.

- Luân canh.

- Tránh gây tổn thương trái khi thu hoạch, loại bỏ trái bệnh.

- Dùng giống sạch bệnh, không dùng hạt ở trái bệnh để làm giống. Xử lý hạt giống bằng nước nóng 2 sôi, 3 lạnh.

- Phun thuốc hoá học: có thể dùng các thuốc đặc trị sau : Carbenzim 50WP, 500FL, Thio M 70WP, 500FL, Mexyl MZ 72WP.

4. Bệnh héo xanh, héo tươi:

Đây là bệnh hại đặc trưng của các cây họ cà như ớt, cà chua, khoai tây. Ở Lâm Đồng bệnh gây hại nặng có thể khiến cây trong vườn chết đến 80%.

Nguyên nhân : do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum.

Triệu chứng :

Đặc điểm nhận diện là cây héo, đôi khi chỉ 1, 2 nhánh nhất là khi trời nắng, nhưng lá vẫn còn xanh, sau đó khi trời chiều mát hay ban đêm cây lại phục hồi, tuy nhiên triệu chứng héo – tươi chỉ kéo dài vài ngày rồi cây chết hẳn, ở cây gi triệu chứng thể hiện chậm hơn.

Nếu nhổ cây lên ta thấy phần thân và rễ cây bị thối đen, mềm nhũn, dùng dao cắt ngang phần thân, rễ bị thối thì chúng ta thấy nơi vết bệnh mềm, ngửi có mùi hôi, lõi có màu đen, nếu cho vào một cốc nước trong ta sẽ thấy nếu là cây bị bệnh héo xanh, sẽ thấy dịch sữa trong chứa nhiều vi khuẩn chảy ra chầm chậm từ vết cắt, nếu lấy dịch nầy pha nước tưới vào vườn cây thì sau 3 – 5 ngày triệu chứng bệnh sẽ xuất hiện.

Thông thường dễ lầm lẩn bệnh héo do nầm và do vi khuẩn, để phân biệt ta chú ý : (1) Bệnh do vi khuẩn vết bệnh thường mềm nhũn, có mùi hôi, mạch dẫn có màu đen, cây chết nhanh, còn bệnh do nấm đất như Fusarium, Rhizoctonia, Sclerotium…bệnh phát triển tương đối chậm, lá chuyển dần sang vàng rồi rụng, diễn biến chậm, nếu cắt ngang thân không thấy dịch chảy ra, không có mùi hôi….

Bệnh héo xanh phát triển nhanh trên nến đất ẩm ướt, thoát thủy kém, vi khuẩn tồn tại trong đất rất lâu, ngoài cà, vi khuẩn còn có thể sống trên nhiều ký chủ phụ, lan truyển qua giống, dụng cụ tỉa cành, vết thương cơ giới do dụng cụ làm vườn, các lỗ hổng tự nhiên (khí khổng ở rễ), tuyến trùng chích hút, khi bộ phận của cây dưới đất bị thối r ữa, vi khuẩn phát tán trong đất, nước và lây lan sang cây bên cạnh, triệu chứng quan sát được khoảng 3 – 7 ngày.

Phòng trị:

- Luân canh, không nên trồng 2 vụ ớt trên cùng chân đất.

- Xử lý hạt giống 54 độ C trong vòng 25 – 30 phút. Dùng hạt giống sạch bệnh.

- Vệ sinh đồng ruộng, ruộng trồng phải sạch cỏ, thu gom tiêu huỷ tàn dư thực vật.

- Bón phân hữu cơ hoai mục.

- Khi chăm sóc tránh gây vết thương cho cây, dụng cụ chăm sóc, tỉa cành, thu hái, chăm sóc cần sát trùng liên tục bằng formol.

- Ruộng trồng cần bằng phẳng, tránh ruộng úng nước, thoát thủy kém, không trồng ớt trên ruộng các vụ trước đã trồng cây cùng họ cà.

- Nếu trên ruộng có cây bệnh phải lập tức nhổ bỏ và tiêu hủy ngay.

- Lưu ý nguồn nước tưới hay chảy khi mưa từ các ruộng có trồng cây họ cà ở bên trên nguồn vì có thể mang mang bệnh lây lan xuống phía cuối nguồn nuớc bên dưới.

- Cuối cùng bệnh do vi khuẩn t ương đối khó trị, cần thăm đồng thường xuyên và phát hiện sớm và phò ng trị kịp thời bằng thuốc đặc trị như Alpine 80WDG ..

5. Bệnh khảm do virus

Triệu chứng: có nhiều triệu chứng do virus gây ra trên ớt, có thể là lá ớt biến dạng, xoăn lại, mép cong lên trên, hay lá có màu sắc thay đổi hoặc từng lá có từng mảng xanh đậm hay vàng, hoặc vàng xen lẫn xanh, loang lổ, trường hợp bị nặng chồi không phát triển, cành vặn vẹo, hoa rụng, trái nhỏ, méo mó, cứng… Bệnh do virus gây ra mà tác nhân truyền bệnh là các loài rầy, rệp, tuyến trùng chích hút.

Phòng trị bệnh do virus gây ra nên không có thuốc phòng trị, chúng ta chỉ phòng trừ gián tiếp bằng cách tiêu diệt các môi giới truyền bệnh như các loài rầy, rệp mà thôi.

6. Bệnh sinh lý

Ngoài ra trên ớt chúng ta thường thấy phía đáy trái ớt, nhất là ớt ngọt, có hiện tượng bị thối đen (thối đáy trái) nguyên nhân là cây thiếu Ca, để hạn chế bệnh nay ta nên tăng cường bón vôi cho đất (bón ít nhất 1 tháng trước khi trồng cây con ra ruộng), khi phát hiện có hiện tượng thiếu Ca có thể tăng cường bón phân Cancium nitrate cho cây.

 

 

Tác dụng y học

Đây là loại quả có lượng vitamin C kỷ lục. Cứ 100g ớt có chứa 120mg vitamin C. Lượng vitamin C này gấp 2,5 lần so với trái cam. Thực tế, chỉ cần 50g ớt chuông đã chứa 60g vitamin C, tương đương với 75% lượng vitamin C cơ thể cần mỗi ngày. Ngoài vitamin C, ớt chuông cũng rất giàu vitamin A, protid, đường, canxi, photpho, sắt, beta-caroten, vitamin B1, B2… Ớt chuông thường được dùng trong các món salad hoặc nấu chín.

Loại rau xanh nhiều chất xơ và ít kalo

Đây là loại thực phẩm được những người ăn kiêng lựa chọn vì giàu chất xơ mà lại ít kalo. Tuy nhiên, với những người có hệ tiêu hóa nhạy cảm hoặc mắc bệnh về đường ruột thì không nên ăn ớt sống mà phải gọt vỏ, nấu chín, ăn với một lượng vừa phải. Để tiêu hóa dễ hơn, có thể cắt nhỏ, nướng qua trước khi chế biến sẽ làm ớt chuông.

1.  Bảo vệ sức khỏe và làm đẹp da

- Ớt vàng và ớt xanh giúp bảo vệ màng collagen và nuôi dưỡng da hiệu quả.

- Song, đây vẫn là một loại ớt với tính nóng, vị nồng nên trị được đau bụng do lạnh, nôn ói, tả lị.

- Theo những nghiên cứu mới nhất, ớt chuông còn có tác dụng tăng cường trí nhớ, tăng tính đàn hồi của các mạch máu não.

2. Tăng cường trao đổi chất

Ớt chuông là loại quả giúp giảm cân cực kỳ hiệu quả nhờ chứa rất ít năng lượng. Ăn loại quả này giúp tăng cường trao đổi chất nhờ hạ thấp nồng độ triglyceride – một dạng mỡ trong máu mà nếu tăng bất thường sẽ gây ra hội chứng trao đổi chất.
Ngoài ra, ớt chuông cũng giúp ngăn ngừa tình trạng rối loạn tiêu hóa nhờ tiết dịch tiêu hóa.

3. Chất chống oxy hóa

Các gốc tự do có mặt trong cơ thể sẽ gây hại tế bào, tổn thương thần kinh và mạch máu. Ớt chuông giàu vitamin A và C, trong đó có cả chất chống oxy hóa cực mạnh. Những chất chống oxy hóa này giúp chống lại các gốc tự do trong cơ thể và giúp điều trị các bệnh tim, viêm xương khớp, hen phế quản, đục thủy tinh thể…

4. Ngừa ung thư

Người ta tin rằng các hợp chất capsaicin trong ớt chuông có khả năng điều trị ung thư bằng cách ngăn chặn chất gây ung thư kết nối với ADN. Ớt chuông có khả năng ngăn chặn các tế bào ung thư và tiêu diệt chúng.

5. Giảm đau

Hợp chất capsaicin có trong ớt chuông có thể ngăn chặn sự lây truyền của cơn đau từ da đến cột sống. Vì vậy, ớt chuông giúp hỗ trợ trong điều trị đau dây thần kinh, đau do bệnh zona, cũng như điều trị chấn thương sau phẫu thuật cắt cụt.

6. Tăng cường miễn dịch

Ớt chuông vàng giàu vitamin C, nên có thể kích thích các tế bào bạch cầu chống lại nhiễm trùng. Chính vì vậy, ớt chuông giúp tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể. Vitamin C và chất flavonoid có trong ớt cũng ngăn ngừa các vấn đề về đường hô hấp như viêm phổi, hen suyễn, khí phế thũng và thở khò khè.

 

 

 

Giá trị kinh tế

Ớt chuông  là loại cây trồng nhập từ nước ngoài về khá mới mẻ nhưng hiện đang “hút” nhà vườn  bởi giá trị kinh tế của nó.

Cây ớt chuông vàng có thể cho thu hoạch 12 tháng một lần trồng.

Ớt chuông vàng là một loại cây trồng khó tính; tuy nhiên, nếu biết canh tác đúng kỹ thuật thì đây là loại cây trồng mang lại giá trị lợi nhuận cao hơn nhiều so với nhiều loại cây trồng khác của các nhà vườn (1ha đất canh tác rau bình thường cho thu khoảng 120 triệu đồng/năm, canh tác công nghệ cao cho thu khoảng 500 triệu mỗi năm, trong khi ớt chuông cho khoảng 3 tỷ đồng).

Bình luận