Ớt chuông

Ớt chuông, hay còn gọi là ớt ngọt (gọi là pepper ở Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Canada, Ireland hay capsicum[1] ở Ấn Độ, Bangladesh, Úc, Singapore và New Zealand), là quả của một nhóm cây trồng, loài Capsicum annuum.

Cây trồng của loài này cho ra trái với màu sắc khác nhau, bao gồm màu đỏ, vàng, cam, xanh lục, sô-cô-la / nâu, vanilla / trắng, và màu tím. 

Điều kiện trồng ớt chuông lý tưởng bao gồm đất ấm, khoảng từ 21 đến 29 độ C (70 đến 84 độ F), và luôn giữ ẩm nhưng không để úng nước. Ớt chuông rất nhạy cảm với độ ẩm và nhiệt độ cao vượt mức.

Hầu hết ớt chuông có màu xanh, vàng, cam, và đỏ. Hiếm hơn thì có thể là màu nâu, trắng, cầu vồng, Oải hương (màu), và tím sẫm, tùy thuộc vào giống ớt chuông. Thường nhất là, các quả chưa chín thì có màu xanh lục, hay ít gặp hơn là vàng xám hay màu tím. 

Ớt chuông đỏ chỉ đơn giản là ớt chuông xanh đã chín, dù rằng giống Permagreen vẫn duy trì màu xanh lục ngay cả khi đã chín hoàn toàn. Ớt chuông xanh thì ít ngọt và hơi đắng hơn so với ớt chuông vàng và cam, và ớt chuông đỏ có vị ngọt nhất. Vị của ớt chuông chín cũng có thể rất đa dạng tùy theo điều kiện trồng và điều kiện bảo quản sau khi thu hoạch. Quả ngọt nhất được để chín hẳn trêncây ngoài nắng, còn quả thu hoạch khi còn xanh hay để tự chín khi bảo quản thì ít ngọt hơn.

Ớt chuông rất giàu các chất chống oxi hóa và vitamin C. So với ớt chuông xanh, ớt chuông đỏ có nhiều vitamin và dưỡng chất hơn. Lượng carotene, giống như lycopene, trong ớt chuông đỏ là cao gấp 9 lần. Ớt chuông đỏ còn chứa gấp đôi lượng vitamin C so với ớt chuông xanh.

Cả ớt chuông đỏ và xanh đều có chứa nhiều axit para coumaric

Đặc tính thơm của ớt chuông xanh là do hợp chất 3-iso Butyl-2-methoxypyrazine (IBMP). Ngưỡng phát hiện trong nước của nó là khoảng 2 ng/L.

Phân bổ

Ớt chuông có nguồn gốc ở Mexico, Trung Mỹ, và phía Bắc Nam Mỹ. 

Phần khung và hạt bên trong ớt chuông có thể ăn được, nhưng một số người sẽ cảm nhận được vị đắng. 

Hạt ớt chuông được mang đến Tây Ban Nha vào năm 1493 và từ đó lan rộng khắp các nước Châu Âu, Châu Phi, và Châu Á. 

Ngày nay, Trung Quốc là nước xuất khẩu ớt chuông lớn nhất thế giới, theo sau là Mexico và Indonesia. Một số nước khác cũng trồng nhiều như Mỹ, Tây Ban Nha, Ai Cập, Hàn Quốc, Nhật Bản...

Ớt ngọt là loại thực phẩm có mặt ở nước ta từ lâu, song mãi đến những năm gần đây, cùng với sự đi lên của đời sống xã hội, ớt ngọt ngày càng xuất hiện nhiều trong bữa ăn của dân ta. Hiện nay ớt chuông được trồng nhiều ở Đà Lạt.

Chăm sóc

1. Thời vụ

Ớt chuông ưa nhiệt độ ôn hòa hơi lạnh do đó thời vụ trồng ớt chuông tốt nhất là vào vụ Đông-Xuân, trồng vào vụ Xuân-Hè thường bị thối quả và rám quả, ớt chuông là cây ưa ẩm, khô hạn thường là héo và rụng hoa. Tuy nhiên, nếu có giống tốt, thích hợp với điều kiện vụ hè, và khắc phục được nhiệt độ cao có thể trồng ớt ở hai thời vụ chính:

– Vụ Đông-Xuân: Gieo hạt vào tháng 8-9, thu hoạch vào tháng 1-tháng 2.

– Vụ Xuân-Hè: gieo hạt vào tháng 11-tháng 12, thu hoạch vào tháng 3-tháng 4.

2. Chuẩn bị vườn ươm

Kỹ thuật làm vườn ươm trồng cây con giống như đối với ớt cay, nhưng chú ý khi chăm sóc cây con phải loại bỏ các cây lẫn.

3. Chọn đất

Đất màu mỡ, cát pha hoặc thịt nhẹ, pH = 5,5-7 tới tiêu chủ động vì ớt chuông ưa ẩm và rất mẫn cảm với khô hạn cũng như quá ẩm. Thông thường người ta tưới nước cho ớt chuông một ngày sau khi cây xuất hiện triệu chứng héo và việc thoát nước phải được làm ngay lập tức sau khi mưa to.

4. Mật độ và khoảng cách

Vì ớt chuông có tán nhỏ hơn ớt cay nên có thể lên luống rộng 1,3-1,4m. Sau khi lên luống, trồng 2 hàng/luống, trồng với khoảng cách 60 x 30-35cm. Mật độ khoảng 35.000-40.000 cây/ha.

5. Phân bón và cách bón

Dùng phân chuồng hoai mục, không dùng phân gà.

6. Trồng

Trồng khi cây có 4-5 lá thật (khoảng 4-5 tuần sau khi gieo). ớt chuông rất nhanh có hoa, ở một số giống cây ra hoa ở giai đoạn 6-7 lá thật, nếu để cây con quá già sẽ ảnh hưởng đến năng suất sau này.

7. Chăm sóc

– Che phủ: Có điều kiện phủ nilon trước khi trồng hoặc phủ rơm sau trồng.

– Tưới: Sau khi trồng phải tưới cho ớt hàng ngày cho đến khi cây hồi xanh, ở giai đoạn sinh trưởng sau nên thường xuyên tưới giữ ẩm cho cây trong suốt thời gian sinh trưởng. Dùng nước tưới ở các giếng khoan hoặc các sông ngòi không có chất phế thải của thành phố, khu công nghiệp hoặc nghĩa trang, bệnh viện. Có thể tưới rãnh khi cây đã ra hoa, độ ẩm thích hợp trong suốt thời gian sinh trưởng của ớt là 75-80%. Chú ý không để ruộng ớt quá ướt, sẽ tăng tỷ lệ bệnh héo xanh vi khuẩn.

– Khử lẫn: Chú ý khử lẫn trong quá trình chăm sóc ớt chuông, vì ớt chuông có tỷ lệ giao phấn cao, đặc biệt là tạp giao với ớt cay. Cần chú ý đặc biệt khâu khử lẫn ở các ruộng sản xuất hạt giống.

– Tỉa cành: ở những giống có nhiều cành thì tỉa bớt chỉ để lại mỗi cây 3-4 cành. Thường xuyên tỉa bỏ lá già.

– Làm cỏ, xới xáo, vun gốc: Nên làm cỏ 3 lần, kết hợp với bón phân và vun gốc:

+ Lần 1: sau khi trồng 10-12 ngày.

+ Lần 2: sau lần 1 từ 12-15 ngày.

+ Lần 3: sau lần 2 khoảng 20 ngày.

Trong điều kiện thuận lợi có thể bón bổ sung lần 4 khi cây đã cho thu hoạch lứa thứ nhất, nhưng chú ý không bón nhiều đạm trước khi thu quả, sẽ dẫn đến hiện tượng tăng tích lũy NO3 trong quả

8. Thu hoạch, chế biến và bảo quản

– Thu hoạch: ớt chuông xanh thường được sử dụng khi quả còn xanh, nếu quả đã chuyển màu đỏ thì sẽ giảm giá trị thương phẩm. Xác định thời gian thu hoạch đối với ớt chuông xanh rất quan trọng, vì thu quá non thì thịt quả mỏng, không ngon và làm giảm năng suất, thu già cũng kém chất lượng và không phù hợp với thị hiếu khách hàng. Theo kinh nghiệm thì khi nhìn thấy vỏ quả trở nên bóng, ấn vào quả thấy cứng tay, nghe có tiếng “pop” là đạt kích thước tối đa có thể thu hoạch (trừ trường hợp sản xuất giống phải thu quả chín đỏ).

Năng suất ớt có thể đạt 15-20 tấn/ha, ở các ruộng thâm canh, áp dụng các quy trình hướng dẫn có thể cho thu hoạch 22-25 tấn/ha. Trừ trường hợp thu sản phẩm sấy khô và sản xuất hạt giống phải để quả chín đỏ hẳn. Thông thường khoảng 35-40 ngày sau khi nở hoa thì quả có thể thu được ở hầu hết các giống. Chú ý khi thu hoạch tránh làm gãy cây, vì cây ớt tương đối dòn, để hạn chế tối đa sự gây hại nên thu hoạch bằng dao hoặc kéo, trước khi thu để hạn chế việc lây nhiễm bệnh khảm thuốc lá ở ớt nên khử trùng dụng cụ trong dung dịch 3% Na3PO4. Thời gian thu hoạch ớt chuông xanh thường chỉ kéo dài trong 6-8 tuần.

– Bảo quản: Có thể bảo quản 40 ngày ở nhiệt độ 0oC và ẩm độ tương đối 95-98%. Hàm lượng caroten tăng cực đại 3-4 tuần sau thu hoạch, và giảm 25% lượng đường sau 5-6 tuần thu hoạch, nhất là khi quả đã chín đỏ.

Món ăn

- Thịt bò xào ớt chuông

- Trứng ốp la ớt chuông

- Mực xào ớt chuông

- Salad ớt chuông

Bệnh

1. Bệnh thán thư (Collettotricum nigrum El. et stal.): 

Đây là bệnh nguy hiểm gây thối quả hàng loạt. Do bệnh xuất hiện vào giai đoạn quả chín rộ, vào thời điểm nhiệt độ cao (30 độ C), mưa nhiều nên rất khó khăn cho việc phòng trừ bằng thuốc hoá học. Do nấm tồn tại trên tàn dư cây trồng nên phải thực hiện luân canh nghiêm ngặt. Không trồng liên tục ớt trên một chân ruộng hoặc trồng ớt sau các cây họ cà. Dùng thuốc Zineb 0,3%, Boocdo hoặc Oxyclorua đồng 0,7%.

2.  Bệnh sương mai (Phytophthora infestant

Phá hại tất cả các bộ phận trên cây ớt. Bệnh phát sinh từ mép lá, sau đó lan nhanh ra cả cây, gây thối nhũn, sau đó khô giòn và gẫy. Hoa bị chuyển thành màu nâu và rụng. Phun phòng bằng thuốc Zineb 0,3%, Oxyclorua đồng 0,7%.

3.  Bệnh héo rũ (Fusarium oxysporum F. lycopensici

Xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn cây con đến khi ra hoa. Dùng hỗn hợp Kasuzan 0,2%, Fudazol 0,15 để trừ.

4.  Nhện trắng (Poliphago tarsonemus Latus

Gây hiện tượng xoăn ngọn, xoăn lá. Dùng Applaut 0,2%, Ortus, Kinalux để diệt.

5.  Rệp (Aphis sp). 

Thường xuất hiện vào cuối tháng 4 đầu tháng 5. Dùng thuốc Actara để trừ.

Tác dụng y học

1. Chống ung thư

Ớt chuông rất giàu vitamin A, C, E và các chất chống oxy hóa khác. Trong 100gr ớt chuông có chứa tới 120mg vitamin C và chỉ cần 50gr ớt đã cung cấp 75% lượng vitamin C mà cơ thể bạn cần cho cả ngày. Do đó, ớt chuông giúp nâng cao sức đề kháng cơ thể, chống lại các gốc tự do có hại và phòng tránh ung thư hiệu quả.

2. Ngừa bệnh Parkinson

Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Annals of Neurology cho thấy: ăn nhiều ớt chuông có thể làm giảm nguy cơ phát triển bệnh Parkinson.

Parkinson hiện là căn bệnh gây ảnh hưởng đến nhiều triệu người ở Mỹ, vốn là một rối loạn vận động thường rất khó chẩn đoán và ngày càng tồi tệ hơn theo thời gian.

3. Tốt cho làn da

Ớt chuông đều có tác dụng làm da mịn màng, chống lão hóa da. Ớt chuông màu đỏ có lượng vitamin C nhiều, có tác dụng chống nhăn da; có nhiều beta-caroten giúp chống lại sự tấn công của các gốc tự do, ngăn ngừa quá trình lão hóa da.

Ớt vàng và ớt xanh giúp bảo vệ màng collagen và nuôi dưỡng da. Ngoài ra, theo Đông y, ớt ngọt với tính nóng, vị nồng, có tác dụng tán hàn, kiện vị, tiêu thực, trị đau bụng do lạnh, nôn mửa, tiêu chảy, kiết lỵ.

4. Bảo vệ tim mạch

Hoạt chất flavonoid của ớt chuông có tác dụng cực tốt trong việc bảo vệ thành mạch máu, ngăn ngừa các chứng xơ vữa động mạch vành hay giãn nở tĩnh mạch.

Bên cạnh đó, chất capsain trong ớt là một carotenoid giúp tăng sự bền bỉ của các mạch máu nhỏ, cải thiện và kích hoạt lưu thông máu trong các tế bào. Vì thế, ớt chuông là thực phẩm giúp bạn bảo vệ và tăng cường sức khỏe của hệ tim mạch.

Giá trị kinh tế

Ớt chuông  là loại cây trồng nhập từ nước ngoài về khá mới mẻ nhưng hiện đang “hút” nhà vườn  bởi giá trị kinh tế của nó.

Cây ớt chuông có thể cho thu hoạch 12 tháng một lần trồng.

Ớt chuông là một loại cây trồng khó tính; tuy nhiên, nếu biết canh tác đúng kỹ thuật thì đây là loại cây trồng mang lại giá trị lợi nhuận cao hơn nhiều so với nhiều loại cây trồng khác của các nhà vườn (1ha đất canh tác rau bình thường cho thu khoảng 120 triệu đồng/năm, canh tác công nghệ cao cho thu khoảng 500 triệu mỗi năm, trong khi ớt chuông cho khoảng 3 tỷ đồng).

Bình luận