Đậu

Họ Đậu hay còn gọi họ cánh bướm (danh pháp khoa học: Fabaceae, đồng nghĩa: Leguminosae, Papilionaceae là một họ thực vật trong bộ Đậu. Đây là họ thực vật có hoa lớn thứ ba, sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng 730 chi và 19.400 loài.

Các loài đa dạng tập trung nhiều trong các phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) và phân họ Đậu (Faboideae), và chúng chiếm khoảng 9,4% trong tổng số loài thực vật hai lá mầm thật sự.

Cho đến nay vẫn còn những tranh cãi về việc họ này bao gồm 3 phân họ hay tách các phân họ của nó thành các họ riêng biệt. Có rất nhiều thông tin về dữ liệu phân tử và hình thái học chứng minh họ Đậu là một họ đơn ngành. 

Quan điểm này được xem xét không chỉ ở cấp độ tổng hợp khi so sánh các nhóm khác nhau trong họ này và các quan hệ họ hàng của chúng mà còn dựa trên các kết quả phân tích về phát sinh loài gần đây dựa trên ADN.Các nghiên cứu này xác nhận rằng họ Đậu là một nhóm đơn ngành và có quan hệ gần gũi với các họ trong bộ Đậu là họ Viễn chí (Polygalaceae), họ Suyên biển (Surianaceae), và họ Quillajaceae.

Tất cả các thành viên trong họ này đều có hoa chứa 5 cánh hoa, trong dó bầu nhụy lớn khi phát triển được sẽ tạo ra quả thuộc loại quả đậu, hai vỏ của nó có thể tách đôi, bên trong chứa nhiều hạt trong các khoang riêng rẽ. Các loài trong họ này theo truyền thống được phân loại trong ba phân họ, đôi khi được nâng lên thành các họ riêng trong bộ Đậu (Fabales), trên cơ sở hình thái học của hoa (đặc biệt là hình dạng cánh hoa):

Phân họ Vang (Caesalpinioideae) hay họ Vang (Caesalpiniaceae):Có khoảng 170 chi và 2.000 loài. Hoa của chúng đối xứng hai bên, nhưng thay đổi nhiều tùy theo từng chi cụ thể, chẳng hạn trong chi Cercis thì hoa tương tự như hoa của các loài trong phân họ Faboideae, trong khi tại chi Bauhinia thì nó là đối xứng với 5 cánh hoa bằng nhau.

Phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) hay họ Trinh nữ (Mimosaceae): Các cánh hoa nhỏ và thông thường có dạng hình cầu hay là cụm hoa dạng bông và các nhị hoa là bộ phận sặc sỡ nhất của hoa.

Phân họ Đậu (Faboideae hay Papilionoideae) = họ Fabaceae nghĩa hẹp hay họ Papilionaceae: Một cánh hoa lớn và có nếp gấp trên nó, hai cánh hoa cận kề mọc bên cạnh còn hai cánh hoa dưới chúng nối liền với nhau ở đáy, tạo thành một cấu trúc tương tự như cái thuyền con.

Bộ Đậu chứa khoảng 9,6% đa dạng sinh học của nhóm thực vật hai lá mầm thật sự và hầu hết chúng tập trung trong một trong 4 họ của nó là họ Đậu. Nguồn gốc của nhánh này bao gồm cả các họ Polygalaceae, Surianaceae và Quillajaceae được xác định là đã tồn tại từ 94 đến 89 triệu năm, và bắt đầu phát triển đa dạng vào khoảng 79 đến 74 triệu năm. 

Trong thực tế, các loài trong họ Đậu dường như đã đa dạng hóa trong suốt đầu kỷ Đệ Tam để trở thành thành viên phổ biến ở khắp mọi nơi của thực vật trên cạn hiện đại, giống như nhiều họ thực vật hạt kín khác.

Các loài trong họ này có các kiểu phát triển đa dạng từ cây thẳng, cây bụi, thân thảo, dây leo, dây leo thân thảo. Các loài cây thân thảo có thời gian sinh trưởng 1 năm, 2 năm hoặc nhiều năm.

Các lá thường mọc xen kẽ và khép kín khi nhìn từ trên xuống. Chúng thường có dạng kết hợp chẵn- hoặc lẻ, thường có 3 lá chét và hiếm khi có dạng hình chân vịt, còn trong các phân họ Mimosoideae và Caesalpinioideae, thường là cặp lá kép.

Một đặc trưng nổi bật của các loài cây thuộc họ Đậu là chúng là các loại cây chủ cho nhiều loài vi khuẩn tại các nốt sần trên rễ của chúng. Các loại vi khuẩn này được biết đến như là vi khuẩn nốt rễ (rhizobium), có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và chuyển hóa nó thành các dạng chất mà cây có thể hấp thụ được (NO3- hay NH3). Hoạt động này được gọi là cố định đạm.Cây đậu, trong vai trò của cây chủ, còn vi khuẩn nốt rễ, trong vai trò của nhà cung cấp nitrat có ích, tạo ra một quan hệ cộng sinh.

Phân bổ

 - Ước tính các loài trong họ này chiếm 16% các loài cây trong vùng rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ. Ngoài ra, họ này cũng có mặt nhiều ở các rừng mưa và rừng khô nhiệt đới ở châu Mỹ và châu Phi. 

- Họ đậu phân bố trong 4 quần xã chính: rừng mưa,ôn đới, đồng cỏ, và cây mọng nước.

- Ở Việt Nam các cây họ đậu phân bổ khắp mọi nơi bởi nó có nhiều loại khác nhau phù hợp cho từng loại thổ nhưỡng và khí hậu khác nhau như lac, đậu tương, đậu coove...

 

Chăm sóc

Cây họ Đậu gồm nhiều loại cây:

 - Loại rau cải: Đậu hoe (ve), đậu Hà Lan (đậu poa, đậu nàng Tàu), đậu đũa,đậu ván, đậu rồng, củ sắn(củ đậu) ….

- Loại cây phân xanh, cỏ chăn nuôi: Cỏ “ kut zu” (kudzu), cỏ ba lá, bình linh, sục sạc, điên điển, so đũa, đổ mai (anh đào giả)…

Ngoài việc ít tốn tiền mua phân đạm bón cho cây (giảm được 50 ~ 100 kg Urê/ ha), trồng cây họ đậu còn có tác dụng cải tạo đất. Để nốt sần cây họ đậu họat động tốt chúng ta cần phải:

- Cày xới để giúp đất được tơi xốp và thoáng khí.

- Trong mùa mưa cần phải thoát nước tốt, tránh đất bị oi nước vì vi khuẩn cố định đạm rất cần không khí để thở.

- Bón thêm phân hữu cơ để vi khuẩn nốt sần hoạt động được sớm và mạnh hơn.

- Chủng thêm nốt sần cho hột đậu giống vò trước khi gieo hột (bằng phân vi sinh có chứa vi khuẩn nốt sần hoặc lấy từ các nốt sần trưởng thành trên rễ cây đậu cùng loại, đem hĩ nhỏ và áo lên hột giống đậu trước khi gieo)

Món ăn

- Đậu phụ nồi thịt xay sốt chua ngọt

- Đậu cô ve xào thịt bò

- Chè đậu ngự

- Sữa đậu xanh

Bệnh

 SÂU HẠI

1. Dòi đục thân (Ophiomyia phaseoli)

1.1. Đặc điểm hình thái: gây hại đáng kể lúc cây còn nhỏ có 3-4 lá và lúc ra hoa. 

- Thành trùng là ruồi có màu đen bóng, kích thước rất nhỏ, dài 2-3 mm.
- Âu trùng là dòi có màu trắng ngà, 
- Nhộng hình trứng, có màu vàng – nâu. Vòng đời trung bình 25-30 ngày. Trong đó giai đoạn trứng: 2-4 ngày; sâu non: 10-12 ngày; nhộng: 12-15 ngày.

1.2. Đặc điểm gây hại:

- Ruồi đẻ trứng sau khi vũ hóa 2-3 ngày và ruồi trưởng thành có thể sống khoảng 10 ngày.
- Ruồi trưởng thành thường xuất hiện vào sáng sớm hay lúc trời mát; đẻ trứng rời rạc vào mô lá non hoặc trên phần thân gần gốc. 
- Dòi đục vào bên trong gân, qua cuống lá và đi dần xuống thân ở nơi tiếp giáp giữa lớp vỏ và phần gỗ làm lớp vỏ thân bị nứt. Mỗi thân có từ 1-3 con dòi, 
- Dòi thường gây hại khi cây còn non và đang sinh trưởng làm cây dễ bị chết héo, hoặc gây chết nhánh.

1.3. Biện pháp phòng trừ:

- Không trồng liên tục cây họ đậu nhiều vụ.
- Vệ sinh đồng ruộng, thu gom tàn dư trước khi trồng nhất là cây họ đậu.
- Bón đầy đủ, cân đối các loại phân bón.
- Xử lý hạt giống trước khi trồng.
- Biện pháp hóa học: Có thể sử dụng thuốc Diazinon (Diazan 50EC, 60 EC) để phòng trừ.

2. Sâu đục trái (Maruca testulalis) 

2.1. Đặc điểm hình thái

- Bướm nhỏ, có màu nâu đậm, thân dài 10 - 13 mm. 
- Trứng màu trắng ngà hình bầu dục.
- Sâu non màu trắng ngà, đầu màu vàng, trên lưng mỗi đốt có sáu đốm vuông cạnh hay bầu dục màu nâu đậm. 
- Nhộng có màu xanh nhạt sau chuyển màu nâu vàng, dài 12-15mm được bao phủ bởi lớp kén mỏng. Sâu đục trái hại đậu

2.2. Đặc điểm gây hại

- Trứng đẻ rải rác từ 1-3 quả ở mặt trên lá non hoặc trên hoa, vỏ quả non.
- Trứng được đẻ trên hoa, đài và trái non. 
- Sâu non kết hoa lại, ăn phá bên trong hoặc đục vào bên trong trái non, chất phân thải tạo điều kiện cho bệnh hại tấn công và làm giảm phẩm chất trái, dễ rụng. Nhộng nằm trong các kẹt lá khô. 
- Sâu đục trái xuất hiện và gây hại nhiều trong mùa mưa.

2.3. Biện pháp phòng trừ:

- Không nên xen canh với các cây họ đậu. 
- Vệ sinh đồng ruộng, thu gom tàn dư cây trồng trước khi trồng.
- Biện pháp hóa học: Có thể sử dụng thuốc Matrine (Kobisuper 1SL, Wotac 5EC) để phòng trừ.

BỆNH HẠI

1. Bệnh chết héo cây con (Rhizoctonia solani) 

1.1. Triệu chứng

Bệnh chủ yếu gây hại ở giai đoạn cây con, làm gốc thân tóp lại, cây dễ chết. 

1.2. Nguyên nhân: 

Bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây hại

1.3. Điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh:

Nấm gây bệnh tồn tại trong đất, thích hợp với ẩm độ và nhiệt độ cao.

1.4. Biện pháp phòng trừ

- Sử dụng giống sạch bệnh;
- Luân canh cây trồng khác họ;
- Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc BVTV sau để phòng trừ bệnh:
+ Ningnanmycin (Niclosat 2SL, 4SL, 8SL);
+ Validamycin (Vali 3 SL);

2. Bệnh gỉ sắt (Uromyces appandiculatus)

2.1. Triệu chứng:

- Bệnh hại chủ yếu trên lá, đôi khi hại trên thân, cành và quả.
- Trên lá vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ màu trắng bạc, về sau vết bệnh hơi lồi lên, trên vết bệnh có lớp bột màu nâu. Lá bị bệnh co rúm lại, nếu bị nặng lá biến vàng và rụng.
- Trên thân, quả: Triệu chứng bệnh cũng có những đốm nhỏ hơi gồ lên và phủ một lớp bột màu nâu vàng. Cây bị bệnh sinh trưởng kém, lá và hoa bị rụng, quả ít.

2.2. Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh do nấm Uromyces appandiculatus gây hại

2.3. Điều kiện phát sinh phát triển của bệnh:

Bệnh phát sinh phát triển trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, chăm sóc kém.

2.4. Biện pháp phòng trừ:

- Sử dụng giống kháng bệnh.
- Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt tăng sức đề kháng bệnh cho cây.
- Vệ sinh đồng ruộng, thu gom tàn dư.
- Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc Copper Oxychloride + Kasugamycin (New Kasuran 16.6WP) để phòng trừ.

3. Bệnh đốm lá (Cercospora canescens và Cercospora cruenta) 

3.1. Triệu chứng

- Bệnh gây hại bởi C. canescens có dạng tròn đến hơi có góc cạnh với tâm màu nâu, viền xung quanh màu nâu đỏ trên lá; bệnh gây hại nhiều trên đậu Lima, đậu đũa, đậu côve bị hại ít hơn.
- Đốm bệnh do C.cruenta gây có màu nâu đến màu ghỉ sét, hình dạng và kích thước không đều; thường xuất hiện trên thân hoặc trái chín.

3.2. Nguyên nhân: 

Do nấm Cercospora canescen và Cercospora cruenta gây hại

3.3. Điều kiện phát sinh phát triển của bệnh

Nguồn bệnh tồn tại trên cây trồng bị hại và lây lan theo gió, nước tưới.

3.4. Biện pháp phòng trừ

- Vệ sinh đồng ruộng
- Khi thu hoạch cần thu gom tiêu hủy tàn dư lá, quả bệnh;
- Biện pháp hóa học: Do chưa có thuốc BVTV đăng ký trong danh mục để phòng trừ đối tượng này, do đó có thể tham khảo sử dụng thuốc BVTV có hoạt chất như: Trichoderma viride ; Carbendazim+Hexaconazole; Mancozeb Chlorothalonil.

4. Bệnh đốm vi khuẩn (Xanthomonas phaseoli)

4.1. Triệu chứng:

- Bệnh gây ra các đốm cháy rộng trên lá. 
- Trên trái đậu có những đốm nhỏ xanh nhạt, nhũn nước; sau đó trở nên nâu và khô đi, hình dạng bất thường.

4.2. Tác nhân gây bệnh: 

Bệnh do vi khuẩn Xanthomonas phaseoli gây hại 

4.3. Điều kiện phát sinh, phát triển của bệnh

Trong điều kiện ẩm độ cao, bệnh phát sinh và phát triển thuận lợi, đốm bệnh lây lan rất nhanh. 

4.4.Biện pháp phòng trừ:

- Vệ sinh đồng ruộng, thu gom các lá bệnh sau khi thu hoạch.. 
- Biện pháp hóa học: Hiện chưa có thuốc đăng ký trong danh mục để phòng trừ đối tượng dịch hại này. Có thể tham khảo sử dụng một số loại thuốc gốc đồng để phòng trừ.

 

 

Tác dụng y học

Các loại đậu, trong đó có cả đậu Hà Lan chứa nhiều chất xơ sẽ làm giảm các triệu chứng sung huyết do chuột rút gây ra, đồng thời tốt cho tiêu hóa, giảm cả táo bón và tiêu chảy. Các cây họ đậu cũng là một nguồn dồi dào các vitamin B.

Các loại đậu cũng chứa hàm lượng protein, magie và Ca cao giúp xương chắc khỏe.

Chế độ ăn uống lành mạnh là ăn nhiều các loại rau, củ, quả đủ màu sắc cùng với ngũ cốc thô, đỗ, các cây họ đậu, một ít lạc và các loại hạt (hạt hướng dương, hạt bí) sẽ giúp bạn thải độc cơ thể một cách dễ dàng và sở hữu 1 vóc dáng đẹp và giúp bạn giảm cân.

Trong thành phần các cây họ đậu rất giàu các a-xít béo, protein, các loại khoáng chất cũng như chất xơ, và các loại vitamin thiết yếu khác, cần thiết cho cơ thể hàng ngày giúp hỗ trợ chống lão hóa, trẻ hóa làn da và ngăn ngừa ung thư.

Ăn thức ăn giàu chất xơ như các cây họ đậu không chỉ giúp bạn cảm thấy no lâu hơn mà còn làm giảm lượng cholesterol trong máu đồng thời giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch.

Một số đậu còn được y học dân gian ta dùng làm thuốc. Ðó là:

+ Ðậu ván trắng, còn gọi là bạch biển đậu có vị ngọt, hơi ôn, bổ tỳ vị chữa các chứng đau bụng, giải độc, chữa nôn ọe, tóc không bạc.
+ Ðậu phộng có công dung dinh dưỡng cao, có nhiều chất béo, đạm và nhiều loại sinh tố. Dầu lạc dùng làm dầu ăn, đốt đèn và chế thuốc.
+ Ðậu đen này thường dùng để nấu sôi, nấu chè ăn rất ngon. Ngoài ra, đậu cũng bổ thận, lợi tiểu, nước tiểu trong hơn và nhiều hơn.
+  Ðậu nành là nguồn chất đạm rất quan trọng tại nhiều quốc gia, nhất là quốc gia đang mở mang. Trong y học, đậu nành dùng làm thức ăn cho người bị viêm khớp, người mới bình phục sau khi bị  trọng bệnh.
+ Ðậu Xanh có vỏ không độc, có vị ngọt, tính nhiệt có tác dụng giải nhiệt, làm mắt không mờ. Hạt đậu xanh cũng có tác dụng giải nhiệt, giải độc tính của thuốc và kim loại, tiêu phù thũng.

Giá trị kinh tế

Hạt đậu được đánh giá là nguồn dinh dưỡng rất phong phú, ngon mà lại rẻ tiền. Chính vì thế, dù ở nước Mỹ xa hoa hay ở Châu phi nghèo nàn, các loại vẫn luôn xuất hiện phổ biến tại các cửa hàng thực phẩm. Các chuyên gia dinh dưỡng đánh giá, đậu có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực và đẩy lùi tình trạng suy dinh dưỡng.

Ở Châu Mỹ La Tinh, đâu đâu cũng thấy có đậu đen và đậu đỏ trong các bữa ăn. Ở Ấn Ðộ, đậu lăng (lentil) được ăn trộn với gạo như một món ăn phổ biến. Tại Nhật Bản có loại đậu màu nâu gọi là azuki được ăn với cơm. Ở Trung Hoa và Nhật Bản, Việt Nam  đậu nành rất thông dụng trong việc chế tạo tương và chao, tầu hũ, các món chè, xôi…vv.

Việc trồng các loại cây họ đậu thường trong thời gian ngắn là có thể cho thu hoạch. Nếu áp dụng đúng khao học kỹ thuật thì sẽ cho năng suất cao và lãi nhiều lần so với trồng lúa, mang lại hiệu quả cao cho người nông dân.

Bình luận