Bí xanh

Bí xanh hay bí phấn hoặc bí đao, danh pháp hai phần: Benincasa hispida, là loài thực vật thuộc họ Bầu bí dạng dây leo, trái ăn được, thường dùng nấu lên như một loại rau.

Bản địa của bí xanh là vùng Đông Nam Á nhưng nay phổ biến trồng khắp từ Nam Á sang Đông Á. 

Cây bí xanh cần sức nóng mới mọc nhưng trái của nó thì chịu được nhiệt độ thấp, có thể để qua mùa đông mà không hư mặc dù dây bí xanh chỉ mọc năm một, đến đông thì tàn. 

Lá bí xanh xòe, hình bầu có lông giáp, bề ngang 10–20 cm. Hoa bí sắc vàng, mọc đơn.

Khi còn non, quả bí xanh màu xanh lục có lông tơ. Với thời gian quả ngả màu nhạt dần, lốm đốm "sao" trắng và thêm lớp phấn như sáp. 

Quả bí xanh già có thể dài đến 2 m, hình trụ, trong có nhiều hạt dáng dẹp. Bí xanh thường trồng bằng giàn nhưng cũng có thể để bò trên mặt đất như dưa.

Tại Việt Nam, bí xanh thường dùng nấu canh, hấp, xào. Bí xanh còn được dùng thắng với đường làm mứt bí.

Ngoài việc thu hoạch trái, đọt non, lá và ngọn bí xanh cũng có thể hái dùng như rau.

Hạt bí xanh dùng trong y học dân gian làm thuốc lợi tiểu.

Phân bổ

Bí xanh có nguồn gốc ở Ấn Độ, được trồng rộng rãi ở khắp các vùng nhiệt đới của châu Á và miền đông của châu Đại Dương, ở nước ta, bí xanh cũng được trồng ở nhiều nơi để lấy quả. 

Nhiều vùng ở nước ta trồng bí xanh như Hà Nam, Bình Định, Đắc Lắc, Lâm Đồng...

Bí xanh chính vụ được trồng từ tháng 12 năm trước và đến đầu tháng 3 năm sau. 

Tuy nhiên bí xanh có thể trồng ở vụ đông từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 10, kỹ thuật trồng bí xanh trái mùa không khó, năng suất bí vụ đông không cao như trồng chính vụ nhưng bán được giá nên cho hiệu quả kinh tế cao.

Chăm sóc

1. Thời vụ

Bí xanh có thể gieo liền chân thẳng ra ruộng sản xuât hoặc gieo ươm cây con trước khi đem trồng.

Trồng cây con có thể rút ngắn được tuổi cây sinh trưởng trên ruộng sản xuất. Có thể gieo cây con nơi khuất gió, co che đậy tránh tác hại của các tháng mùa đông. Cây con gieo vườn ươm có thể tập trung chăm sóc khi cây còn bé.

Thời vụ gieo hạt trực tiếp ngoài ruộng

Bí mùa gieo từ 25/ 1 đến 25 / 2. Thu hoạch ăn quả non vào tháng 4-5, bí già thu hoạch vào cuối tháng sau đến đầu tháng bảy để dự trữ

Bí chiêm gieo 25/6 – 5/7, thu hoạch trong tháng 10

2. Làm đất:

Làm đất kỹ. Đất cần được phơi ải. Đất trồng bí chiêm chọn các chân đất thịt nhẹ, thoát nước tốt.

Lên luống để trồng. Mặt luống rộng 70-80 cm, cao 25-35 cm. Trên luống trồng hàng đơn. Đối với bí chiêm, cần có rãnh luống rộng 30 cm để thoát nước nhanh.

Nếu trên luống trồng hành kép thì mặt luống làm rộng 1,2 – 1,3 mét cao 25-35 cm, rãnh luống rộng 30 cm.

3. Bón lót:

Lượng phân bón lót cho một ha bí là 20 – 25 tấn phân chuồng, 200 kg supe lân, 100 kh sulfat kali

4. Gieo trồng

Trên các luống đơn, các hốc cách nhau 50-60 cm. Trên các luống trồng 2 hàng, các hàng cách nhau 60 cm, hốc cách hốc 1 m. Các hốc phân bố trên luống theo kiểu nanh sấu. Ở mỗi hốc gieo 3-4 hạt. Về sau tiả bớt cây ốm yếu, để lại ở mỗi hốc hai cây. Như vậy trên môt ha có 13.000 – 14.000 hốc.

Trường hợp gieo hạt trong vườn ươm hoặc gieo trong bầu đất thì sau khi làm đất bổ hốc xong đem cây non ra trồng.

5. Chăm sóc

Từ khi cây mọc đến khi cây bò ra cần chú ý xới đất phá váng 2-3 lần kết hợp với vun gốc cho cây.

Bón thúc vào 3 giai đoạn

Làn thứ nhất: khi cây con có 4-6 lá thật
Lần thứ hai: khi cây có nụ có hoa
Lần thứ ba : khi cây có quả rộ

Ở các lần bón thúc có dùng phân bắc pha vào nước, nước giải hoặc phân urê pha loãng bón cho cây !!

6. Lấy dây bí, nương dây và làm giàn:

Khi thân cây bí bò ra dài 50 cm, thì lấy đất lấp lên ở vị trí các đốt. Cứ cách 1-2 đốt lại lấp chặn lên một đốt để cây ra nhiều rễ bất định, hướng cho ngọn bí bò từ hốc này qua hốc kia. Sau đó mới nương dây cho bí bò lên giàn. Dùng lạt mềm buộc thân bí vào giàn, buộc ở vị trí dước nách lá. Dàm cắm tréo như mái nhà. Số lượng cây cắm giàn cần cho 100 mét vuông là 300 – 350 cây sặt cùng với 3-4 cây tre hoặc nứa

Đối với bí chiêm, do trồng trong mùa mưa bão cho nên cần chú ý thoát nước kịp thời, làm giàn thấp và vững chắc.

7. Tỉa cành, bấm ngọn, gác quả

Mỗi dây bí chỉ để hai nhánh chính. Trong giai đoạn ra hoa, ra quả rộ, cần bấm bớt ngọn và hoađực, Cần chú ý điều chỉnh cho cuống quả bí nằm vào chỗ 2 cây sặt giao nhau. Trường hợp không làm được giàn để quả bí nằm dài trên mặt đất cần phải lót rơm rạ để đỡ quả.

Bí xanh ra nhánh khoẻ, tiêu hao nhiều chất dinh dưỡng. không có lợi cho việc kết quả, cho nên cần ngắt nhánh kịp thời, chỉ để lại ở mỗi dây bí một đến hai nhánh.

Ngoài ra, đối với bí xanh loại quả to, khi quả đã lớn nặng 1-2 kg cần phải gác quả hoặc treo quả lên giàn, đề phòng gãy cuống rụng quả.

8. Thu hoạch:

Thu hoạch bí tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi dạng và đặc điểm của tập quán địa phương.

Bí lông quả bé, thường 1 cây để vài quả, cho nên quả đầu cần thu hoạch sớm, khi quả nặng 1-2 kg. Thu sớm để cây tập trung nuôi các quả sau.

Bí xanh quả to, mỗi cây chỉ để một quả, nên khi quả thật già mới nên thu.

Nói chung sau khi ra hoa đậu quả 50 – 60 ngày là có thể thu hoạch được. Để cây làm giống và để quả dự trữ phải thu bí già (3-4 tháng sau khi đậu quả) khi lớp vỏ quả cũng có lớp phấn mốctrắng mới thu.

Bí xanh để giống chọn lấy ở cây khoẻ, lá nhiều, đốt ngắn, ra quả sớm, chọn quả ở giữa cây. Loài chín sớm chọn quả ở đốt thứ 8 đến đốt thứ 12. Loại chín vừa chọn quả ở đốt 14-20. Chọn quả ngay ngắn, hai đầu to bằng nhau, núm quả bé ….

Món ăn

- Bí xanh nấu tôm

- Thịt lợn quay om bí xanh

- Nước ép bí xanh

- Mứt bí xanh

Bệnh

1. Phòng trừ sâu bệnh Bí xanh thường gặp các loài sâu hại:

1.1. Bọ nhảy (Phyllotreta rectilineata Chen)

Bỏ nhảy thường cắn thủng lá lỗ chỗ. Sâu non cắn rễ phụ dưới đất, đục vào gốc rễ làm cây úa vàng dần rồi chết.

Bọ trưởng thành nhỏ, dài 2-4 mm. Trên cánh cứng có nhiều chấm đen xếp thành hàng dọc song song với nhau. Giữa cánh có sọc màu vàng nhạt chạy dọc theo cánh. Sâu non hình giun đất, màu vàng tươi, sống và lột nhộng dưới đất.

Bọ nhảy có tính giả chết, ưa thời tiết khô và ấm. Ban đêm, vào buổi sáng khi sương chưa tan hoặc vào những ngày trời mưa chúng lấp dưới tán lá hoặc nõn cây, chờ khô sương hoặc trời nắng mới ra hoạt động. Bọ nhảy cái đẻ trứng dưới đất, trên rễ cây. Bọ trưởng thành di động nhanh

Hàng năm bọ nhảy xuất hiện và phá hoại mạnh 2 đợt: vào các tháng 3-5 và 7-9. Vòng đời dài 19-54 ngày. Trong đó thời gian trứng là 3-9 ngày, sâu non 13-28 ngày, bọ trưởng thành 3-17 ngày.

Phòng trừ:

Làm sạch cỏ trong vườn ươm, ở bờ ruộng

Luân canh với các cây trồng khác

Khi mật độ cao dùng thuốc Diazinon, Dipterex phun để trừ

1.2. Ban miêu đen ( Epicanta impressicornis Pic.)

Ban miêu đen phát sinh quanh năm và phân bố rộng ở nhiều nơi. Bọ trưởng thành ăn lá nhiều loại cây trồng

Bọ trường thành có thân dài 15 mm. Toàn thân đen tuyền, đầu mào đỏ da cam. Đầu nhỏ, hơi cụp vào phía ngực. Mắt kép, hình thận, màu đen. Ngực nhỏ hơn đầu, hình nón cụp, cánh trước màu đen, hẹp, dài và mềm. Trên cánh có phủ nhiều lông nhỏ, mịn, phần bụng ngắn, có hình thon.

Bọ trưởng thành hoạt động chủ yếu là bò di chuyển. Gặp động chúng thường ẩn nấp sau lá cây hay giả chết. Từ đốt chân tiết ra dịch màu vàng hay da cam. Dịch này nếu dính vào da người có thể gây lở loét. Bọ trưởng thành thường tụ tập thành đàn, ăn khuyết lá nham nhở. Chúng thích ăn lá non.

Sau khi vũ hoá 4-5 ngày thì giao phối. Con cái trưởng thành giao phối một lần. Con đực giap phối 3-4 lần. con cái dùng miệng đào đất sâu 5 cm để dể trứng, sau đó lấp đất và đi nơi khác. Một con cái đẻ khoảng 400 – 500 trứng. Sâu non nở ra, chui lên mặt đất đi tìm thức ăn. Thức ăn của sâu non là trứng các loài châu chấu. Nếu không tìm được trứng châu chấu thì sau 10 ngày sâu non chết.

Phòng trừ:

Chỉ tiến hành khi bọ trưởng thành tập trung với mật độ cao và gây hại rõ rệt. Sử dụng các loại thuốc trừ sâu thường dùng

1.3. Sâu róm đường chỉ đỏ ( Porthesia scintillans Walk)

Sâu phân bố rộng trên nhiều vùng, phá hoại nhiều loại cây trồng. Sâu thường phát sinh với mật độ thấp nhưng cũng có những trường hợp xuất hiện với mật độ cao và gây ra tác hại lớn, có thể ăn trụi các lá cây trồng trên nhiều ruộng.

Sâu trưởng thành là một loại bướm. Bướm có thân dài 10 – 12 mm. sải, cách 28 – 32 mm. Đầu nhỏ, râu đầu hình răng lược kép. Cánh trước màu nhạt. Bụng màu xám nâu, cuối bụng có chùm lông màu vàng.

Sâu non đẫy sức dài 21 – 25 mm. Lông đen trên thân thưa. Trên đốt ngực có u lồi có lông. Ở giữa lưng của phần bụng có vệt màu vàng chạy dọc thân. Chính giữa vệt vàng đó có 1 đường chỉ dọc màu đỏ-

Nhộng ngắn, màu nâu nhạt, có lấm chấm những vết màu đen. Bướm cái đẻ trứng thành hàng dài, một ổ có 20 – 40 trứng. Sâu non tuổi nhỏ sống tập trung, ăn thủng lá cây. Sâu non tuổi lớn sống phân tán, ăn khuyết lá hoặc ăn toàn bộ lá cây. Sâu non đẫy sức nhả tơ dán 2-3 lá cây làm tổ và hoá nhộng trong đó.

1.4. Sâu róm nâu ( Amsacta lactinea Cramer)

Bướm sâu róm nâu thích ánh sáng đèn. Sâu non hoạt động nhanh nhẹn và rất phàm ăn. Chúng ăn lá hoa, quả thân cây. Sâu phát sinh quanh năm, nhưng chỉ một đôi khi mới gây thành dịch.

Ngoài có sải cánh 55 mm, thân dài 25 mm. Thân màu trắng, có những vằn đỏ. Mặt lưng các đốt bụng có vân ngang màu đen. Cánh trước hẹp dài, màu trắng, có viền đỏ ở mép. Cánh sau rộng ngắn.

Sâu non đãy sức dài 40-42 mm. Toàn cơ thể sâu có phủ nhiều lông dài cứng. Ở sâu non tuổi lớn lông có nhiều màu khác nhau.

Nhộng dài 20 mm, màu nâu tối, giữa phình to, 2 đầu thon nhọn

Phòng trừ :

Chỉ tiến hành phòng trừ khi sâu xuất hiện với mật độ cao. Dùng các loại thuốc trừ sâu ăn lá thường dùng như sherpa, Decis, Drazinon v.v. ..

2. Các loại bệnh thường gặp:

2.1. Bệnh phấn trắng : do nấm Sphaerotheca fuliginea poll. và nấm erysiphe cichoracearum D.C. form. Cucurbitacearum poteb.

Nấm gây hại trên lá cành hoa. Triệu trứng đầu tiên của bệnh là xuất hiện các vết bệnh trên lá, màu trắng như rắc bột. Các vết bệnh thường ở rải rác trên mặt lá, đầu tiên xuất hiện ở các lá dưới thấp. Về sau, các đám nấm lan ra cả cuống lá và cành. Khi các vết bệnh đã lan dài khắp phiến lá, đám nấm chuyển dần từng phần sang màu nâu và trên đó có những chấm đen, đó là các quả nấm.

Lá bị bịnh thường chết sớm và rụng. Cành bị bệnh kém phát triển.

Phòng trừ:

- Thu dọn sạch tàn dư cây trên ruộngsau mỗi vụ thu hoạch
- Chăm bón cây kịp thời
- Phun thuốc trừ bịnh khi bịnh xuất hiện nhiều

Dùng thuốc Zineb phun lúc trời mát, vào sáng sớm hoặc chiều tối

Tác dụng y học

1. Giảm cân, chống béo phì

Có thể nhắc đến đầu tiên là tác dụng giảm cân của  bí đao. Bí đao có công dụng giảm cân chủ yếu là bởi vì bí đao có khả năng làm no bụng mà không chứa năng lượng nhiều.

Trong bí đao chứa rất nhiều nước và không chứa chất béo. Hơn nữa, trong bí đao còn chứa hợp chất hóa học hyterin-caperin ngăn không cho đường chuyển hóa thành mỡ trong cơ thể, nên cơ thể sẽ không bị tích lũy mỡ thừa.

Thịt quả bí đao chứa nhiều chất xơ dạng sợi. Loại chất xơ này rất có lợi cho ruột và đường tiêu hóa. Khả năng sinh nhiệt thấp, hàm lượng chất béo gần như không có và có khả năng làm giảm tích tụ mỡ trong cơ thể nên Bí đao là vị thuốc lý tưởng để chữa bệnh béo phì, ăn bí đao lâu dài có thể giúp cho bạn có một cơ thể thanh thoát.

Ngoài ra, các vitamin B9, vitamin C, vitamin E, vitamin A và các khoáng chất như: kali, phospho, magiê có trong bí đao cũng góp phần làm đẹp cơ thể, loại bỏ mỡ ở bụng. Vỏ bí đao được cho là chứa nhiều vitamin và chất khoáng, nên có thể ăn cả vỏ, nhất là vỏ bí đao khi quả còn non. Với những người mắc bệnh béo phì hoặc muốn giảm cân, ăn bí đao thường xuyên thực sự rất tốt.

2. Thanh nhiệt, giải độc

Theo y học cổ truyền, bí đao vị ngọt nhạt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, giải nhiệt và làm tan đờm, làm mát ruột và hết khát, lợi tiểu, làm hết phù, giải độc và giảm béo.

Không phải ngẫu nhiên mà ở một số địa phương, bí đao được sử dụng để chế biến thành món trà thanh nhiệt, giải độc. Trà bí đao không chỉ dễ uống mà còn giúp làm mát cơ thể cực tốt trong những ngày nắng nóng.

3. Làm đẹp da

Không chỉ chữa bệnh, bí đao còn được xem như một “mỹ phẩm” của riêng chị em phụ nữ. Cao bí đao – phương thuốc làm đẹp bí truyền của các mỹ nhân từ xưa: cao bí đao có nhiều công dụng như giữ ẩm cho da, làm cho da căng mịn, sáng hồng, bớt dầu, bong mụn cám và mụn đầu đen.

Ngoài ra, cao bí đao còn thích hợp với những chị em đang bị mụn trứng cá ở tuổi dậy thì và những người có da mặt bị sần sùi, chân lông to, da mặt xỉn màu.

Cao bí đao có ưu điểm là lành tính, không có hóa chất bảo quản nên không lo hư tổn da về sau, lại thích hợp với mọi loại da, đặc biệt thích hợp với những ai thích dưỡng da bằng phương pháp Đông y.

Bạn cũng có thể  dùng nước ép bôi lên da mặt hoặc trộn lẫn nước ép bí đao với nước ép dưa chuột hoặc mật ong bôi lên da mặt, khoảng 30 phút sau rửa lại bằng nước sạch. Trong Bí đao chứa rất nhiều nước và vitamin tốt cho làn da, làm thay đổi độ ẩm của da, làm mịn da, làm mờ vết nám và vết thâm do mụn,…

Đặc biệt nếu như da bạn bị nám, đen thì sau khi ép bí lấy nước, bạn nên để lại một chút nước ép rồi trộn với mật ong, đắp lên mặt, các vết nám trên mặt sẽ mờ dần đi.

4. Giải khát, phòng mụn nhọt, lở ngứa, rôm sảy:

Dùng nước ép bí đao thêm vài hạt muối uống nhiều lần trong ngày.

5. Giải độc do ngộ độc thức ăn (tôm, cá) trong trường hợp ngộ độc nhẹ:

Lấy thật nhiều nước ép bí đao để uống sẽ có tác dụng giải độc. nhưng sau khoảng 2 giờ nếu vẫn có triệu chứng ngộ độc cần đến cơ sở y tế điều trị.

6. Chữa sốt nóng, háo khát do nhiệt:

Bí đao một quả, nướng cho chín vỏ ngoài, rửa sạch, giã nát, cho vào túi vải sạch, vắt kiệt lấy nước, thêm vài hạt muối hòa tan, chia uống nhiều lần trong ngày.

Các tác dụng khác:

Các nghiên cứu cho thấy hàm lượng natri trong bí đao rất thấp nên có tác dụng trị liệu cho những người mắc các chứng bệnh như: Xơ cứng động mạch, tiểu đường, bệnh động mạch vành tim, viêm thận, phù thũng, bệnh cao huyết áp và béo phì.

Giá trị kinh tế

Bí xanh là cây trồng không đòi hỏi yêu cầu chăm sóc nhiều, đầu tư thấp nhưng đưa lại hiệu quả kinh tế cao, bình quân cho năng suất từ 3-4 tấn quả/sào Trung bộ. 

Có thể tận dụng được lao động nhàn rỗi ở địa phương nên người nông dân trồng thường mang lại lãi cao hơn nhiều so với trồng lúa.

Các bộ phận của cây bí xanh đều được dùng làm món ăn và thuốc: quả (gồm cuống, vỏ, thịt, hột), thân, lá, hoa...Một phần nhỏ sản lượng dùng để chế biến: trà bí đao, mứt bí đao… Bí xanh ngoài dùng làm thực phẩm, còn được dùng làm thuốc. 

Bình luận