Xương Rồng

Họ Xương rồng (danh pháp khoa học: Cactaceae) thường là các loài cây mọng nước hai lá mầm và có hoa. Họ Cactaceae có từ 24 đến 220 chi, tùy theo nguồn (90 chi phổ biến nhất), trong đó có từ 1.500 đến 1.800 loài. Những cây xương rồng được biết đến như là có nguồn gốc từ châu Mỹ, nhất là ở những vùng sa mạc. Cũng có một số loại biểu sinh trong rừng nhiệt đới, những loại đó mọc trên những cành cây, vì ở đó mưa rơi xuống đất nhanh, cho nên ở đó thường xuyên bị khô. Cây xương rồng có gai và thân để chứa nước dự trữ.

Xương rồng gần như là loại thực vật ở châu Mỹ, ngoại trừ duy nhất là Rhipsalis baccifera, sinh trưởng chủ yếu ở vùng nhiệt đới, chủ yếu ở châu Phi, Madagascar và Sri Lanka cũng như ở vùng nhiệt đới châu Mỹ. Loài này được cho là mới định cư gần đây ở các lục địa ngoài châu Mỹ (trong vài nghìn năm gần đây), có thể là do các loài chim di cư mang theo dưới dạng hạt không tiêu hóa được. Nhiều loài xương rồng khác đã thích hợp với môi trường sống mới trên các phần khác nhau của thế giới do sự đem theo của con người.

Xương rồng là một loài thực vật mọng nước, có nhiều dạng phát triển: thành cây lớn, thành bụi hoặc phủ sát mặt đất. Đa số các loài xương rồng đều mọc và phát triển từ đất, nhưng cũng có rất nhiều loài kí sinh trên các loài cây khác để phát triển. Phần lớn xương rồng, trừ nhánh Pereskioideae phân loại dưới-họ (xem ảnh bên), có lá tiêu biến rất đáng kể. Cánh hoa phân bố đồng đều và đồng tâm, hoa đa phần là lưỡng tính, nở vào cả sáng và tối tuỳ theo loài. Hình dạng thay đổi từ dạng-phễu qua dạng-chuông và tới dạng-tròn-phẳng, kích thước trong khoảng từ 0,2 đến 15–30 cm. Phần lớn có đài hoa (từ 5-50 cái hoặc hơn), thay đổi dạng từ ngoài vào trong, từ lá bắc đến cánh hoa. Số lượng nhị rất lớn, từ 50 đến 1.500 (hiếm khi ít hơn). Gần như tất cả các loài xương rồng có vị đắng, thi thoảng bên trong còn có nhựa đục. Một trái xương rồng chứa khoảng 3.000 hạt, mỗi hạt dài 0,4-12mm.

Trung bình, một cây xương rồng sống rất lâu, tới hơn 300 năm, và cũng có loài chỉ sống 25 năm (..??). Loài xương rồng Saguaro (Carnegiea gigantea) có thể cao tới 15m (kỉ lục đo được là 17m67, trong khi đó 10 năm đầu nó chỉ cao 10 cm. Cây xương rồng "Gối bông của mẹ chồng" ("mother-in-law's cushion", Echinocactus grusonii) nhỏ nhất ở quần đảo Canaria cao 2m50 và đường kính là 1m, cho bông mỗi 6 năm. Đường kính hoa xương rồng khoảng 5–30 cm màu sắc rất sặc sỡ, lộng lẫy.

Phân bổ

Theo Martínes (2000), Họ xương rồng – Cactaceae bao gồm khoảng 2000 loài phân bố ở vùng sa mạc hoặc ở những nơi có khí hậu khô. Cây xương rồng chủ yếu tập trung ở Trung Mỹ và Bắc Mỹ mặc dù chúng thích nghi và có nguồn gốc từ Úc, Địa Trung Hải, Đông Phi. Tuy nhiên, cũng có một số ít loài có khả năng thích nghi rộng, sống trong những khu rừng có tiểu khí hậu ẩm ướt.

Trước đây khoảng hơn một thế kỷ, xương rồng bị nhiều người xem thường, chỉ coi nó là giống cây mọc hoang dã tại các vùng sa mạc mênh mông, quanh năm với biển cát nóng cháy mà các giống cây khác không tài nào sống nổi. Ban đầu, nhiều người thấy đây là giống cây lạ, như ẩn chứa trong thân một sức sống tiềm tàng, có khả năng vượt qua được những điều kiện bất lợi về khí hậu cũng như đất đai nên đem về trồng thử. Nhưng họ cũng chỉ trồng xương rồng làm hàng rào bao quanh nhà để ngăn ngừa trộm đạo, gia súc, trang trí xung quanh nhà….Có nhiều giống xương rồng dùng làm hàng rào như: Barell Cactus, Opuntia Dillenii, Payote,…Có những giống bên trong có chất mủ trắng rất độc hoặc không độc; có giống chứa chất mủ trong như nước lã, có thể uống được…những giống này được lai dần ra thành nhiều giống mới, trở nên những cây kiểng vừa lạ vừa đẹp nên dần dần được nhiều người chọn trồng. Vì lẽ đó nên kiểng xương rồng mới có cơ hội tốt phân tán ra khắp các châu lục. Do xương rồng là cây dễ trồng, dễ nhân giống, nên qua nhiều thế hệ lai tạo, kiểng xương rồng ngày nay đã có rất nhiều giống đa dạng về màu sắc hình dáng. Ngày nay, nhiều quốc gia ở châu Mỹ, châu Phi, châu Âu, và cả châu Á đều đã lai tạo nhiều giống xương rồng tuyệt đẹp, mang dáng vẻ đặc trưng riêng. Chẳng hạn:

Ở Argentina tạo được những giống xương rồng đẹp như Abromeitiella, Acanthoxalycium…

Giống Hatiora tuy nay đã có mặt ở nhiều quốc gia, nhưng xuất xứ của nó mọi người đều biết chính là ở Brazil.

Xuất xứ của kiểng xương rồng Hoya chính tại Autralia.

Giống Capiapoa có xuất xứ tại Chile

Ở châu Phi lai tạo được giống Euphorbia, vừa dùng làm hàng rào vừa dùng làm cây kiểng đều đẹp. Giống này thân có 5 khía, to cao, lá hình muỗng nằm phía ngọn, cho hoa đẹp. Tại xứ này, cũng trong họ Euphorbia này còn tạo ra được giống Antiquorum, tục gọi là xương rồng Ông, cây cũng to cao, thân có 3 khía, gai đen, hoa trổ màu vàng. Lọai xương rồng Laetea (cũng thuộc họ Euphorbia) đem trồng vào chậu xem chẳng khác nào cây kiểng bon sai do cây có dáng đẹp, thân thấp có 3 khía, trổ được nhiều cành, trong khi đó các bộ phận lá hoa và gai lại nhỏ, gọn rất xinh xắn.

Mexico đã lai tạo ra được nhiều giống xương rồng kiểng nổi tiếng được nhiều nước nhập về trồng như Astrophytum, Beaucarnea, Lamaireocerues, Leuchtenbergia….

Mexico còn nổi tiếng với giống xương rồng Ferocactus Wedzenii. Đây là giống cây kiểng lúc nhỏ hình tròn, nhưng khi lớn lên lại có hình trụ với chiều cao đến vài thước. Thân cây không phải chỉ có 5, 7 khía như nhiều giống xương rồng khác, mà có đến 25 khía sâu, mép khía có nhiều núm nhỏ với chùm lông nhọn hoắt. Đặc biệt trong mỗi chùm gai có chiếc ngắn chiếc dài, mà chiếc dài nhất co thể lên đến 10cm và đầu gai cong lại chẳng khác gì một cái móc câu. Hoa Ferocactus wedzenii có dạng hình chuông, cánh hoa màu vàng cam và mọc ra từ các núm trên ngọn cây. Giống xương rồng này ngày nay đang được nhiều quốc gia trên thế giới nhập trồng với số lượng nhiều, nên nhiều người lầm tưởng về xuất xứ của nó.

Giống xương rồng Gymnocalycum nổi tiếng từ Argentina đến Brazil, được gọi là xương rồng hồng ngọc, có giống cho hoa màu trắng, một số giống ra hoa màu vàng. Tùy giống mà hoa có nhiều dạng, như hình ống, hoặc hình chuông, và cũng phát ra quanh ngọn cây. Đây là giống xương rồng hình cầu, thân có màu đỏ phớt xanh, mang 8 khía, trên mỗi khía nổi lên nhiều hằn ngang rất lạ, mép khía có nhiều núm, và mỗi núm có nhiều gai nhỏ hơi cong, màu phớt vàng.

Ở Nam Phi lai tạo được các giống xương rồng như Caralluma, Diocorea, Cephalocereus, Cleistocactus, Dolichothele, Echinopsis…

Tại nhiều quốc gia khác như Mỹ, Cuba, Island, Somalia, Kenia, Venezuela, Paraguay… đều đã lai tạo những giống xương rồng quí hiếm được nhiều nước ưa chuộng.

Việc lai tạo ra những giống xương rồng kiểng mới chắc chắn sẽ hứa hẹn ngày càng nhiều hơn, nhằm đáp ứng đúng mức nhu cầu của giới chơi hoa kiểng khắp nơi.

Tại nước ta, từ trước đến nay, các nghệ nhân hoa kiểng cũng lai tạo được nhiều giống lạ qua sự chiết ghép, nhưng con số đó cũng chưa thấm vào đâu. Số lượng kiểng xương rồng chúng ta trồng từ truớc đến nay đa số được nhập về từ nhiều nước, trong đó có Thái Lan, dưới dạng cây con và hạt giống.

Chăm sóc

Tưới nước

Xương rồng bắt nguồn từ sa mạc nên chúng thích nghi tốt với môi trường khô hạn, vì vậy lượng nước tưới rất quan trọng trong quá trình chăm sóc xương rồng. Tưới nhiều cây dễ bị úng, nhưng để cây khô nước quá lâu cũng sẽ làm yếu cây. Loại nước tưới: nước tưới xương rồng là loại nước có độ PH trung bình như nước mưa hay nước máy.

Lượng nước tưới và số lần tưới phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường, thời tiết, loại chậu trồng, loại xương rồng. Mỗi khi tưới nước, các bạn nên quan sát đất trồng khô hẳn rồi mới tưới. Lượng nước tưới trên một lần cũng nên tưới vừa đủ cho nước ngấm tới rễ cây, khoảng 3/4 chậu trồng.

Trồng xương rồng tại nơi có nhiệt độ cao như: Ban công, sân thượng…có thể tưới 2-3 lần/tuần trong điều kiện không mưa. Để xương rồng ở nơi có nhiệt độ thấp hơn như cửa sổ hay bàn làm việc, tưới 1 lần/tuần hoặc ít hơn tùy thuộc mặt đất khô nhanh hay chậm.

Xương rồng mới mua về, thay chậu, bị va đập gây tổn thương nên để sau 3 ngày mới tưới nước. Để những nơi bị tổn thương trong quá trình này có thể liền sẹo và không bị vi trùng xâm nhập gây hại cho cây. Cần chú ý: vào mùa mưa không nên để xương rồng trực tiếp ngoài trời lâu ngày có thể bị mưa làm úng nước dễ dẫn đến thối và chết cây. Nếu có thể hãy che mưa cho xương rồng bằng nilon trong suốt hay kính hoặc cũng có thể để nơi nhiều nắng mà vẫn tránh được mưa như ban công.

Ánh sáng và không khí

Cây xương rồng và cây mọng nước là những cây ưa ánh sáng, đặc biệt là ánh sáng trực tiếp vào buổi sáng. Nói chung, cây xương rồng cần nhận ít nhất chừng 50% lượng ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu vào mỗi ngày (khoảng 6 giờ/ngày). Đối với cây xương rồng con, hạt mới nảy mầm hoặc mới ươm ra hoặc được tháp ghép thì tránh ánh sáng trực tiếp, mỗi ngày chỉ cần phơi ra nắng buổi sáng khoảng 1-2 giờ là đủ. Những cây xương rồng để trong nhà lâu ngày, khi đem ra phơi nắng trực tiếp trên 6 giờ đồg hồ có thể bị hiện tượng "cháy da cây", thân bị nám vàng nâu hoặc đen.

Cây xuơng rồng trong trong chậu để bên cửa sổ hoặc bàn làm việc thì khoảng 2-3 ngày thì nên đưa ra nắng một lần. Cây xương rồng và cây mọng nước ưa sự thông thoáng. Vì vậy, cây phát triển tốt trong điều kiện thoáng đãng của hoang mạc, đồng cỏ, sân thượng... Cây trồng trong nhà kiếng, đôi lúc cũng cần có mở cửa đề đón gió hoặc phải dùng quạt để thổi gió. Có nơi người ta gắn ống thông khí trên các mái nhà kiếng.

Nhiệt độ

Trong tự nhiên hoang dã, cây xương rồng và cây mọng nước có thể tồn tại, chịu đựng trong khoảng nhiệt độ lớn, chừng 10°C - 50°C. Tuy nhiên, nhiệt độ thích hợp để cây phát triển vào khoảng 15°C - 28°C. Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp có thể làm cho cây ngừng phát triển và suy yếu.

Dinh dưỡng

Mặc dù cây xương rồng và cây mọng nước có nguồn gốc từ những vùng khô cằn, nghèo dinh dưỡng nhưng để có một cây xương rồng hoặc cây mọng nước khoẻ đẹp và phát triển tốt, cây cũng cần cung cấp dinh dưỡng cho đất. Trong mùa phát triển, cây xương rồng và cây mọng nước đều cần chất đạm (N) để giúp sự tăng trưởng thân, chất potassium (P) cho sự phát triển của hoa và trái và chất phosphorus (P) cho sự phát triển bộ rễ. Ngoài ra, cây cũng cần một số chất vi lượng khác.

Phân bón

Ở giai đoạn cây con, phân bón có thể là NPK 16-16-8, 20-20-20, giai đoạn tăng trưởng: NPK 18-19-30, 20-30-20, giai đoạn ra hoa NPK 6-30-30, kích thích ra hoa: NPK 10-60-10, trong đó phân NPK 18-19-30 được sử dụng thường xuyên, NPK 10-60-10 là phân đặc hiệu kích thích xương rồng ra hoa (chú ý sử dụng khi cây đang mạnh, và sau khi cây xương rồng ra nụ hoa thì lại chuyển về chế độ nuôi trồng ra hoa bình thường để không làm suy kiệt cây).

Liều lượng phân pha để tưới thường từ 1g-1, 5g cho 1 lít nước, 10-15 ngày tưới 1 lần hoặc có thể chọn các loại phân hữu cơ được trộn sẵn trong đất trồng để cung cấp dần chất dinh dưởng cho cây.Các loại phân vi lượng như cũng rất cần thiết như zn, Ca, Na Cu, Mn, Bo, Mg... nhưng cần ít, 1-2 tháng có thể tưới xịt 1 lần.

Bệnh

Bệnh thối gốc

Bệnh thối gốc xương rồng là bệnh phổ biến và nguy hiểm đối với tất cả các loại xương rồng.

Triệu chứng

Xuất hiện trên gốc hoặc các vết thương do chiết ghép cành. Ban đầu là các đốm thối chứa nhiều nước màu xám hoặc nâu đen, các chấm mốc màu đỏ tím hoặc màu trắng ở nơi tiếp giáp phần bệnh và phần khỏe. Khi bệnh lan rộng tới xung quanh thân, cây có thể bị khô và chết.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh thối gốc gây ra bởi nấm lưỡi liềm (Fusarium oxysporum Schlecht) thuộc lớp nấm bào tử sợi. Khi bón phân chưa hoai, côn trùng gây hại hoặc chiết ghép gây vết thương đều có lợi cho nấm phát triển. Nhiệt độ thuận lợi cho nấm phát triển là 25o – 30o. Độ ẩm càng cao bệnh càng nặng.

Phương pháp phòng trừ

  • Chọn loại đất và phân hoai không nấm bệnh. Nếu đất đã nhiễm bệnh cần khử trùng bằng Formalin 50ml/m2 và đợi thuốc bay hơi hết mới đem trồng cây.
  • Công cụ chiết ghép phải được khử trùng bằng cồn 70o.
  • Cây bị bệnh cần phải nhổ bỏ và đốt đi, đồng thời cần khử trùng đất.
  • Định kỳ phun thuốc Daconil 0.1%

Bệnh đốm than (thán thư)

Bệnh thán thư khá phổ biến trên cây xương rồng, nếu bệnh nặng có thể làm cây chết khô.

Triệu chứng

Cây bị bệnh thường có đốm nhiều nước màu nâu nhạt. Đốm bệnh dần dần lõm xuống và trên đốm xuất hiện các chấm đen nhỏ lồi lên, đó là quả nấm.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh đốm than cây xương rồng gây ra bởi nấm đĩa gai (Colletotrichum sp.) thuộc lớp bào tử xoang, bộ bào tử đĩa đen gây ra. Đĩa bào tử nhỏ, có lông cứng mọc rải rác, bào tử đơn bào không màu hình bầu dục dài. Bệnh thường gặp vào đầu mùa hạ và đầu mùa đông. Những loại xương rồng hình cầu rất nhạy cảm với loại bệnh này.

Phương pháp phòng trừ

  • Tránh tưới nước quá nhiều, để cây nơi thoáng gió, nhiều nắng.
  • Khi bị bệnh cần kịp thời phun thuốc Boocdo 1% hoặc Daconil 0,1% hoặc Topsin 0,1%, phun vài lần cách nhau 7-10 ngày.

Tuyến trùng hại xương rồng

Bệnh này chủ yếu xuất hiện trên xương rồng 6 cạnh.

Triệu chứng

Trên rễ chính và rễ bên hình thành nhiều u bướu nhỏ, lúc đầu nhẵn về sau thô dần. Cắt u ra thấy nhiều hạt nhỏ màu trắng đó chính là tuyến trùng cái. Bệnh có thể làm cho cây chết khô.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh gây ra bởi tuyến trùng Meloidogyne incognita Chitwood. Tuyến trùng đực và cái khác nhau. Con cái hình quả lê, ngòi miệng dài hơn con đực, âm hộ và lỗ hậu môn đối xứng với cổ, quanh thân có hoa văn như vân tay. Trứng hình bầu dục màu vàng nâu. Con đực miệng phình to, đoạn đuôi tù có một đôi gai giao phối.

Qua mùa đông tuyến trùng sẽ trưởng thành. Ấu trùng và trứng nằm bên trong đất, khi sang xuân nhiệt độ trên 12oC sẽ bắt đầu hoạt động. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triển là 20o -25oC. Đất ẩm có lợi cho tuyến trùng trong việc di chuyển tìm kiếm thức ăn và xâm nhập vào rễ cây.

Phương pháp phòng trừ

  • Nhổ bỏ cây bị bệnh và đem đốt.
  • Khi đất nhiễm bệnh, khử trùng bằng Nemagon 2%, định lượng 3ml/ 1m2. Sau khi phun thuốc đậy đất lại bằng bao nilong để xông hơi trong 15 ngày.
  • Nếu bị bệnh nhẹ có thể dùng Furadan bón vào mỗi gốc 5-10g, dùng Nemagon 0,1% phun cho mỗi gốc 10ml-15ml.
  • Trộn vỏ trứng vào đất trồng có thể làm giảm tuyến trùng.

Rệp sáp

Đặc điểm sinh học của rệp sáp

Rệp sáp hại xương rồng (Diaspis echinocacti Bouche) thuộc bộ cánh đều họ rệp sáp hình thuẫn. Chúng dùng miệng chích hút nhựa cây xương rồng làm cây bị yếu. Rệp cái hơi tròn, dài 1,2mm rộng 1 mm, thân lồi lên màu trắng, có lúc màu hơi vàng, giữa vỏ màu nâu sẫm. Rệp đực dài khoảng 1mm màu trắng. Mỗi năm chúng sinh sản 2-3 lứa vào tháng 5-7 và tháng 10.

Phương pháp phòng trừ

  • Dùng bàn chải đánh răng chải sạch rệp khỏi cây.
  • Trong thời kỳ rệp nở dùng thuốc DDVP 0,1% hoặc pha lưu huỳnh+vôi 0,5% và Malathion 0,2% hoặc Sumithion 0,1% để diệt rệp con.

Tác dụng y học

Theo Đông y, xương rồng nói chung có vị đắng, tính hàn và có độc. Dân gian thường dùng nhựa cây làm thuốc chữa đau bụng, nhưng cần pha chế với vài vị khác để giảm tác dụng quá mạnh. Nhiều người còn dùng xương rồng để sát trùng.

Ở Trung Quốc, người ta sử dụng xương rồng để hành khí hoạt huyết, thanh nhiệt, giải độc, tán ứ tiêu thụng, chữa táo bón và ho.

Chiết xuất dung dịch từ thân cây xương rồng có thành phần kháng sinh. Nó cũng được dùng để chữa bệnh thấp khớp, phù, xóa mụn cóc, các chứng bệnh ngoài da. Thân cây sắc lấy nước có thể chữa bệnh gút.

Tại Ấn Độ, người ta dùng xương rồng tươi nghiền nát, đắp vào chỗ sưng nhọt và chữa một số bệnh ngoài da, phù thũng. Quả dùng làm thuốc trị bệnh ho gà.

Trong y học dân gian Mexico, xương rồng dùng để điều trị bệnh lậu, tiểu đường, hen suyễn, huyết áp, các vấn đề về tiêu hóa và bệnh tăng nhãn áp.

Ở vùng nam châu Âu, Bắc Phi, Ấn Độ, Úc, Nam Mỹ, Mexico, quả xương rồng được xem như một loại quả ngon ngọt, giải khát, có mùi vị giống như dưa hấu.

Một số bài thuốc trị bệnh từ cây xương rồng

1. Trị đau lưng: Theo một số bài thuốc dân gian Xương rồng có thể sử dụng làm thuốc trị đau lưng bằng cách luộc xương rồng Opunitia để ăn.

2. Điều trị bệnh tiểu đường, dạ dày, mệt mỏi: Cây xương rồng Lê Gai còn gọi là cây Tiên Nhân Chưởng cũng là một loại xương rồng họ Opunitia được đề nghị sử dụng nhiều trên thế giới nhằm hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường, dạ dày, mệt mỏi…

Ở Nhật bản còn phổ biến một loại chất ngọt sinh học chiết xuất từ enzim của một loại xương rồng để pha chế cà phê mà không dùng đường. Một ly cà phê như vậy có giá 15 USD và nó an toàn cho những người bị tiểu đường vì không chứa đường mà chỉ gây nên cảm giác ngọt.

3. Chữa sốt: Nước ép từ quả của cây xương rồng trộn với mật ong, chia ra từng liều nhỏ giúp thúc đẩy khạc ra đờm. Vì có tính mát, giải nhiệt nên thân cây này có thể chữa sốt.

4. Chữa đau răng: Hái cành xương rồng rồi cạo bỏ gai, đem nướng cho nóng mềm, giã nát, nhặt bỏ xơ, thêm ít muối. Sau đó đặt vào chổ răng đau ngậm chặt lại. Khi chảy dãi, bạn nhổ ra.

Thực hiện 3-4 ngày. Sau mỗi lần ngậm bạn nhớ súc miệng tránh nuốt vào vì có thể gây tiêu chảy.

5. Chữa mụn nhọt: Lấy cành xương rồng rồi bổ làm đôi, hơ trên lửa cho nóng. Vừa hơ, bạn vừa áp mặt cắt vào mụn nhọt đang sưng đau, độc sẽ tự tiêu.

Bạn Cũng có thể lấy một đoạn xương rồng rồi cạo sạch gai, giã nát với lá ớt, lá mồng tơi đắp vào mụn hay nhọt đầu đinh để trị.

6. Làm hạ đường huyết: Nhiều nghiên cứu cho thấy xương rồng còn giúp hạ đường huyết. Tác dụng hạ đường huyết mạnh hơn khi bạn dùng 500g lá nấu sôi, chia làm 2-3 lần uống trong ngày. Uống cho đến khi lượng đường bình ổn

Xương rồng giúp giảm bớt tác hại của tia tử ngoại phát ra từ các thiết bị điện tử
 
Vì sao xương rồng thường được đặt gần máy tính hay các thiết bị điện tử…? Có phải chỉ để trang chí cho đẹp chăng? Mặc dù chúng ưa môi trường ngoại thất nắng và thoáng hơn?
 
Lý do chính là vì theo nghiên cứu của các nhà khoa học xương rồng có thể giúp giảm bớt tác hại của tia tử ngoại phát ra từ máy tính hay các thiết bị điện tử bằng việc hấp thu một phần các tia tử ngoại này.
 
Trong số các mẹo chống tác hại của tia tử ngoại gây ra bao gồm: uống nước trà, ăn nhiều chuối…thì biện pháp sử dụng một chậu xương rồng đặt gần máy tính hay thiết bị điện tử đem lại hiệu quả hơn cả và cũng rất đơn giản.

Xương rồng làm thực phẩm

Đây chắc hẳn là một điều khá lạ lẫm với nhiều người bởi ít ai nghĩ tới loài cây đầy gai góc này lại làm nên những món ăn ngon tuyệt vời. Nào là salad xương rồng, xương rồng sào ớt, gỏi xương rồng …theo thống kê có khoảng hơn 350 món ăn chế biến từ xương rồng. Ở Mêhicô và các quốc gia Châu Mỹ thì món ăn từ xương rồng rất phổ biến chúng thường được sơ chế và bán như một món rau thường ngày.
 
Loại xương rồng thường được sử dụng làm thức ăn chủ yếu là xương rồng họ Opunitia, một loại xương rồng mỏng rẹt có hình elip, tên khoa học là Nopal. Gần đây loại xương rồng này đã được du nhập vào nước ta và được trồng ở Ninh thuận. Bộ phận của xương rồng được sử dụng làm thực phẩm không chỉ bao gồm than mà Trái của chúng còn rất được ưa chuộm với món Sinh tố xương rồng không chỉ ngon mà còn rất bắt mắt.

Giá trị kinh tế

Con người trồng xương rồng ở khắp nơi trên thế giới, nhắc đến nó ai cũng liên tưởng với một loài cây trồng chậu, một loại cây cảnh quen thuộc trong nhà hay trong những vườn kiểng có khí hậu nhiệt đới. Nó còn hình thành cảnh quan khô cằn trong những hoang mạc, hay làm nên những hòn non bộ. Ở nhiều quốc gia, đặc biệt là Úc, lượng nước sử dụng rất thiếu thốn, nên loài thực vật chịu-hạn chiếm ưu thế. Số lượng loài phát triển nhanh chóng, như các loài: Echinopsis, Mammillaria và Cereus, bên cạnh các loài khác. Nhiều loài còn đóng vai trò chủ yếu như: xương rồng Gối bông của mẹ chồng (mother-in-law's coushion en:Echinocactus grusonii), xương rồng Golden Barrel dekha.

Người ta thường trồng xương rồng thành hàng rào, ở những vùng sâu vùng xa thiếu điều kiện kinh tế hoặc thiếu thốn nguồn nguyên liệu tự nhiên. Như khu bảo tồn Masai Mara, Kenya là một ví dụ. Xương rồng được dùng trang trí, tạo cảnh quan thiên nhiên cho ngôi nhà và chống trộm, nhiều mục đích khác nữa. Gai nhọn của xương rồng gây đau buốt cho kẻ trộm, khiến chúng phải thoái lui và bỏ ý định ban đầu của mình. Tuỳ loại, mà sự kết hợp hình dạng xương rồng và hình dạng hàng rào sao cho thẩm mỹ nhất.

Như các loại cây trồng khác, xương rồng cũng được sử dụng với mục đích thương mại, nhiều cây cho trái ăn được như giống: xương rồng lê gai (Prickly Pear en:opuntia), thanh long. en:Opuntia còn là giống cây dụ loài rệp son (hay con gọi là bọ diệp chi, dùng cho công nghiệp nhuộm ở Trung Mỹ).

Loài en:Peyote, Lophophora williamsii, được biết đến như một vị thuốc an thần (psychoactive ??) của thổ dân châu Mỹ. Nhiều loài của chi Echinopsis (trước đây là Trichocereus) có đặc tính an thần. Như loài xương rồng San Pedro, mẫu vật có thể tìm dễ dàng trong các vườn ươm, có chứa hoạt chất mescaline.

Ý nghĩa

Cây xương rồng đại diện cho một con người cứng rắn mạnh mẽ mà giàu tình cảm nhưng chẳng bao giờ thể hiện ra ngoài , về tình yêu , nó đại diện cho một thứ tình yêu nồng nàn , bốc lửa , mãnh liệt , thủy chung nhưng lại thầm kín , lặng lẽ chưa dám thổ lộ.

Xương rồng - loài cây có một sức sống mãnh liệt đây là cũng là ý nghĩa của nó nhưng đó đâu phải là ý nghĩa mà tôi muốn nói lên: Nó còn một ý nghĩa rất đẹp được biết đến.

Người ta nhắc đến xương rồng là nghĩ đến 2 chữ "sức mạnh".Thật sự đối với 1 loài cây sống vùng hoang mạc khô hanh thì khả năng chịu đựng thật sự là đáng nể phục.Thế nhưng it người biết rằng loại hoa ấy còn mang ý nghĩa khác ý nghĩa của tình yêu.

Câu chuyện bắt đầu là hình ảnh cây xương rồng cằn cỗi ở một vùng hẻo lánh và âm u. Nơi ấy chỉ có con người tất bật với cuộc sống đầy khó khăn với những nỗi lo. Nơi ấy có 2 người yêu nhau Nhưng điều đáng buồn là cả 2 người đều không dám thổ lộ. Đến 1 ngày khi họ ngồi tâm sự với nhau và rồi một người đã dũng cảm thổ lộ trong nỗi lo,và chờ đợi Nhưng ngày này qua ngày khác chàng trai chỉ nhận được từ người kia chậu cây xương rồng. Thật lạ!Theo thời gian tình yêu ấy nhạt phai,một người thì thật vọng còn người kia thì hi vọng sẽ hiểu tình cảm của mình.

Nhưng đến một ngày,người đó ra đi với người khác. Người kia càng đau khổ hơn nữa. Lúc ấy người này vẫn không hiểu tại sao người kia lại tặng mình chậu cây ấy. Và rồi người này muốn tìm câu trả lời. Anh ta cùng chậu cây tìm đến nhà người kia.Chỉ còn ngôi nhà ở nhà bên những chậu xương rồng nở hoa. Và anh ta đã nhận được câu trả lời. Một câu trả lời đầy bất ngờ và khó khăn. Mà có lẽ sẽ không xảy ra chuyện ấy. Tất cả là tại chàng chính chàng mà thôi. Chính anh ta đã nói dối là chàng học tiếng Tây Ban Nha. Anh ta bên chậu cây xương rồng đang tàn úa và khóc. Có lẽ xa xa người kia cũng đang khóc, khóc vì tại sao người kia không hiểu mình, phải chăng anh đã thay đổi.

Kết thúc câu chuyện là hình ảnh chàng trai bên chậu cây xương rồng đang tàn úa.Chàng khóc.Có lẽ xa xa cô gái cũng đang khóc,khóc vì tại sao chàng không hiểu mình,phải chăng chàng đã thay đổi.

Và theo tiếng TÂY BAN NHA cây xương rồng có nghĩa là:“HÃY ĐẾN VÀ MANG EM ĐI“

Cây xương rồng mọc lên lên trên sỏi đá , cát bụi và khô cằn , bề ngoài trông xù xì gai góc nhưng trong thân lại mọng nước. Nó cũng giống như con người , bề ngoài có thể cứng rắn mạnh mẽ nhưng thực ra lại rất tình cảm 

Cây xương rồng rất ít khi ra hoa, và ra cũng rất ít, phần lớn chỉ ra một bông , nhưng đã có hoa thì đấy lại là nhưng bông hoa rất đẹp, rực rỡ và lộng lẫy.

Cây xương rồng đại diện cho một con người cứng rắn mạnh mẽ mà giàu tình cảm nhưng chẳng bao giờ thể hiện ra ngoài , về tình yêu , nó đại diện cho một thứ tình yêu nồng nàn , bốc lửa , mãnh liệt , thủy chung nhưng lại thầm kín , lặng lẽ chưa dám thổ lộ.

Xương rồng cho ta cái cảm giác sờ sợ, gai góc, chẳng ai dám động vào, còn những bông hoa hồng lại tạo ra cho ta cái cảm giác cần phải nâng niu, yêu quý, nhưng đã mấy ai bị gai xương rồng đâm, và cũng mấy ai dám nói rằng mình chưa 1 lần bị gai hồng đâm vào tay ?

Phân loại

Theo Huỳnh Văn Thới (2001) (trích dẫn từ Les Cactées của Laura Fronty và tài liệu Encyclopédie des Cactus của Jan R., Rudolf S.), đầu tiên Linné phân loại cây xương rồng một cách đơn giản: “Cactacées” - “xương rồng”, những nguời phân loại xương rồng kế tiếp là Briton, Rose, và Backebery. Tuy nhiên, cách phân loại này chỉ mới phù hợp với những người nuôi trồng cây xương rồng, nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu của những nhà nghiên cứu chuyên sâu. Những người này cho rằng phân loại như vậy là chưa đầy đủ, như các giống Opuntia, Cereus, Mammillaria… trong mỗi giống còn nhiều loài nữa, từ đó phát sinh ra hai trường phái đối nghịch nhau trong nghiến cứu và phân loại xương rồng:

1. Trường phái thứ nhất chỉ chuyên đi tìm và thu hái cho thật nhiều xương rồng.

2. Phái thứ hai lại chuyên sâu nghiên cứu về nguồn gốc của cây xương rồng.

Nhìn chung, cả hai phái đã tìm được một số lượng xương rồng khổng lồ: 14.000 loài và 2.100 giống.

Bình luận