Trạng Nguyên

Trạng nguyên hay nhất phẩm hồng (danh pháp hai phần: Euphorbia pulcherrima), là tên gọi của một loài cây có nguồn gốc ở miền nam México, Trung Mỹ và châu Phi.

Trong tiếng Anh, người ta gọi nó là poinsettia, theo tên của Joel Roberts Poinsett, đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Mexico, là người đã đưa loài cây này vào Hoa Kỳ năm 1825. Tại Hoa Kỳ, trạng nguyên có thể tìm thấy trong tự nhiên có mọc hoang dã tại Hawaii và Puerto Rico. Các tên gọi trong các ngôn ngữ khác là Mexican flame leaf (lá lửa Mexico), Christmas star (sao Nô en), Winter rose (hồng mùa đông), Noche Buena, hoa Ataturk (tại Thổ Nhĩ Kỳ), Pascua, 聖誕花 (thánh đản hoa), 聖誕紅 (thánh đản hồng) v.v...

Trong tiếng Nahuatl, loài cây này được gọi là Cuitlaxochitl, có nghĩa là hoa phân. Tên gọi này có lẽ là do các loài chim ăn hạt và sau đó chúng đã nảy mầm từ phân chim.

Trạng nguyên là loài cây bụi hay cây thân gỗ nhỏ, thông thường cao 0,6 đến 4 m (2 tới 16 ft). Các lá răng cưa màu lục sẫm dài 7–16 cm (3-6 inch). Các lá trên cùng, còn gọi là lá bắc, có màu đỏ lửa, hồng hay trắng và thường bị nhầm lẫn là hoa. Hoa thực sự là các cấu trúc nhỏ màu vàng, tìm thấy ở trung tâm của các cụm lá.

Trạng nguyên rất khó cho ra hoa trở lại sau khi đã ra hoa ban đầu khi mua. Loài cây này đòi hỏi một chu kỳ dài liên tục vào ban đêm tối trời ít nhất khoảng 2 tháng về mùa thu nhằm phát triển hoa. Nếu tình cờ có ánh sáng vào ban đêm trong giai đoạn này thì cây bị thiệt hại về mặt sinh nụ. Khi tưới nước, một điều quan trọng là không tưới nhiều quá khiến nước đọng làm úng rễ. Cây trạng nguyên chỉ thích đất ẩm và không chịu được môi trường ướt sũng.

Phân bổ

Nguồn gốc tên hoa

Tên tiếng Anh của hoa được đặt theo tên của một đại tá người Mỹ: Joel Roberts Poinsett. Ông vừa là một nhà khoa học, vừa là một người làm vườn lành nghề. Đại tá Poinsett là đại sứ đầu tiên của Mỹ ở Mehico, quê hương của hoa trạng nguyên, giai đoạn 1825 – 1829. Chính tay ông đã trồng những cây hoa trạng nguyên rồi gửi về Mỹ. Vì vậy trong tiếng Anh người ta gọi hoa bất tử là Poinsettia để tưởng nhớ công lao của ông. Còn từ "Pulcherrima" trong tên khoa học của hoa này có nghĩa là "đẹp nhất".

Hoa trạng nguyên có xuất xứ từ Mehico và vùng Trung Mỹ. Cây cao trên 1m, phân cành nhánh nhiều. Lá ở thân dạng bầu dài, chia thùy hay có răng rộng, cuống mập; lá màu xanh đậm, bóng, gân nổi rõ. Lá bao quanh cụm hoa có màu đỏ chói (hoàn toàn đỏ hay chỉ đỏ 1 phần lớn phía gốc, phần đỉnh vẫn màu xanh; có chủng lá bao quanh cụm hoa màu trắng ngà, vàng lợt, hồng, vân hồng, cam, tím ... và xoắn). Chén hoa màu xanh nhạt, có một tuyến lớn màu vàng; quả nang tròn.

Không để cây hoa ở những nơi quá lạnh hoặc những nơi khô hạn. Cần bọc kín cẩn thận lúc bạn mang cây về nhà và nhớ mở ra ngay khi bạn về đến nơi. Nên để chậu cây ở nơi có nhiều ánh sáng. Nhiệt độ thích hợp là 16 – 18o C, nhưng nhớ không để chậu hoa bên trên lò sưởi. Cần tưới nước vừa đủ, không ít quá hay nhiều quá. Nhựa của cây hoa có màu trắng đục, ảnh hưởng xấu tới da, vì vậy cần rửa tay ngay nếu bị dây nhựa ra tay và để chậu cây xa tầm với của trẻ em.

Tại Hoa Kỳ, trạng nguyên có thể tìm thấy trong tự nhiên có mọc hoang dã tại Hawaii và Puerto Rico.
 

Độc quyền thị trường hoa trạng nguyên tại Mỹ

Cho tới khoảng năm 1981, gia đình Paul Ecke tại Encinitas, California, đã độc quyền tạo giống lai cây trạng nguyên tại Hoa Kỳ. Lý do đơn giản là bí mật công nghệ của gia đình này làm cho các giống trạng nguyên của những trại khác không thể so sánh và cạnh tranh được với các giống do gia đình này cung cấp. Một trong những điểm then chốt để thu lợi nhuận từ trạng nguyên là làm sao cho cây có thể ra nhiều cành từ một thân, tạo ra cây có hình dáng đầy đặn và sặc sỡ hơn. Kỹ thuật của Ecke cho phép ghép 2 loài trạng nguyên với nhau mà tạo cây con với dáng rậm cành và đầy đặn ở tỷ lệ gần như tuyệt đối. Khoảng năm 1990 công thức bí mật này đã được các nhà nghiên cứu ở trường đại học kiểm chứng và công bố rộng rãi. Đến nay, loại cây lai được mọi người ưa thích đều xuất phát dùng kỹ thuật này (Crossen, 2000).

Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trạng nguyên đỏ được trồng rất phổ biến do loài này cho hoa đẹp, lại nở vào mùa Xuân một mùa ít có hoa lại có thể nhân giống dễ dàng bằng giâm cành. Hiện tại ngoài màu đỏ truyền thống, các nhà vườn cũng đã nhập về, nhân giống và bán rộng rãi các loài có hoa màu khác, dáng lùn và đẹp hơn.

Chăm sóc

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây hoa trạng nguyên

1. chọn giống

Như tất cả mọi loại hoa khác việc chọn giống rất quan trọng ảnh hưởng lớn đến chất lượng khi hoa trưởng thành và thu hoạch.

2. chuẩn bị cây con

Hoa trạng nguyên được trồng từ cây con nuôi cấy mô hoặc nhân giống bằng ngọn của cây mẹ năm trước. Đối với sản xuất ở quy mô lớn cây giống được sử dụng là cây nuôi cấy mô được nhập về từ Quảng Châu - Trung Quốc vào tháng 6 dương lịch - Đây cũng chính là nguồn cây mẹ để phục vụ cho công tác nhân giống các thế hệ hoa tiếp theo.

Tiêu chuẩn cây mô: cao 7- 10cm, có 4-5 lá, thân cây màu đỏ tím, lá to, dày xanh đậm.

Khác với các loại hoa trồng chậu khác, trạng nguyên ra hoa không phụ thuộc vào thời điểm trồng mà hoàn toàn phụ thuộc vào độ dài thời gian chiếu sáng trong ngày. Trong điều kiện thường, thời điểm trạng nguyên bắt đầu có phản ứng phân hóa mầm hoa diễn ra vào khoảng giữa của tháng 10 dương lịch (khi thời gian chiếu sáng trong ngày < 11h 45 phút). Kích thước của các chậu hoa to hay nhỏ phụ thuộc vào thời gian trồng dài hay ngắn, màu sắc, độ bền của hoa tùy thuộc vào chế độ dinh dưỡng chăm sóc.

Điều kiện quan trọng số 1 quyết định sự thành bại của sản xuất hoa trạng nguyên là giá thể trồng. Giá thể phải đảm bảo được độ thoáng, giữ ẩm, giữ phân tốt, pH dao động trong khoảng 6- 6,5. Giá thể thường sử dụng trong sản xuất được phối trộn theo tỷ lệ 1/3 xơ dừa + 1/3 rêu (giá thể trồng lan hồ điệp) + 1/3 bọt xốp.

Cây con sau khi nhập về được trồng trong chậu đã được chuẩn bị giá thể sẵn và được đặt trong hệ thống nhà lưới có lắp đặt hệ thống lưới cắt nắng với độ chắn sáng 30%.

Lưu ý: chậu cây được xếp thẳng hàng thuận lợi cho việc chăm sóc, theo dõi, chuyển cây (dãn cây khi tán cây lớn dần).

Hàng ngày tưới nước nhặt bỏ lá vàng, các chậu cây bị chết. Cây mô sau khi trồng được 10- 15 ngày,cây có 7- 8 lá có thể tiến hành cắt ngọn để nhân giống các thế hệ tiếp theo. 

Kỹ thuật cắt ngọn: dùng dao lam nhỏ cắt ngang đường kính thân cây (để chừa lại trên cây mẹ 3-4 lá để cây mẹ tiếp tục sinh trưởng về sau). Ngọn cây sau khi cắt được nhúng ngay vào dung dịch Benlate 1% sau đó vớt ngay đem giâm trong khay nhựa đã được chuẩn bị giá thể đặt trên các giá đỡ trong hệ thống nhà lưới cắt nắng 50%. Trước khi cắm cây vào giá thể, mỗi một ngọn sẽ được chấm nhẹ một lớp bột kích thích ra rễ, một mặt có tác dụng làm lành vết thương của cây một mặt khác thúc đẩy nhanh quá trình tạo callus làm rễ mới nhanh chóng xuất hiện.

Chăm sóc: hàng ngày tiến hành phun mù đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm cho quá trình hình thành rễ diễn ra thuận lợi. Sau khoảng 7 ngày lá mới xuất hiện, cũng chính là thời điểm rễ mới hình thành, 5- 7 ngày sau có thể đưa cây con hoàn chỉnh ra trồng vào chậu.

3. kỹ thuật trồng và chăm sóc

3.1. Kỹ thuật trồng

Trồng trạng nguyên phải trồng nổi, cổ rễ cao bằng so với mặt đất, nếu trồng sâu cây phát triển chậm hay bị thối thân.

Trồng xong tưới đẫm nước, nếu cây bị đổ ngả nghiêng dựng lại và bổ sung giá thể vào gốc cây

Trồng cây mô ban đầu, con thế hệ 1 và các thế hệ tiếp sau tương tự nhau. Khi cây có 7- 8 lá tiến hành cắt ngọn để cây bắt đầu phân cành. Trong sản xuất trạng nguyên việc tỉa cành tạo tán là một thao tác kỹ thuật quan trọng nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của người tiêu dùng. Số lượng cành/ cây thường được ưa chuộng: 5, 7 hoặc 9 cành. Khi số lượng cành/cây dưới 3 cành/cây cần tiến hành bấm ngọn để cây phát sinh nhiều chồi mới, sau đó tùy thuộc vào yêu cầu của người mua tiến hành tỉa nhánh và tạo tán cho chậu cây.

Phần ngọn cắt đi tiếp tục sử dụng nhân giống thế hệ thứ 2.

Lưu ý: Đối với việc sử dụng nhân giống trạng nguyên bằng biện phương pháp giâm ngọn từ cây mô chỉ nên sử dụng đến thế hệ thứ 3, nếu tiếp tục nhân các thế hệ tiếp theo sẽ dẫn đến hiện tượng thoái hóa cây con như: tích lũy mầm bệnh, cây sinh trường kém…

3.2. Kỹ thuật tưới nước

Đối với trạng nguyên không nên tưới phun mạnh lên toàn bộ nhà lưới trồng hoa sẽ làm đất và vi sinh vật hại bắn lên cây, gây hại cho cây. Nên nắp đặt hệ thống dây, cần tưới để tưới đến từng chậu. Trạng nguyên không ưa ẩm quá vì vậy 2 – 3 ngày tưới 1 lần tuỳ theo điều kiện thời tiết.

3.3. Kỹ thuật bón phân

Hoa trạng nguyên rất mẫn cảm với phân bón, bón phân càng đầy đủ hoa càng đẹp, màu sắc đậm, lâu tàn. Sử dụng loại phân NPK (20:20:20) tan bón cho cây. Định kỳ 1 tháng bón 1 lần với lượng pha loãng 5kg/ thùng 220 lít với nước và tưới cho cây.

Giống trạng nguyên lùn trồng chậu rất mẫn cảm với các điều kiện ngoại cảnh, do đó trong quá trình chăm sóc chế độ tưới nước, phân bón phải tuyệt đối tuân thủ nghiêm ngặt. Ngoài phân bón qua rễ, dinh dưỡng cung cấp cho cây chủ yếu được bổ sung qua lá. Cây con từ sau khi trồng đến khi kết thúc giai đoạn định hình tạo tán, định kỳ 1 tuần/lần pha loãng phân bón lá loại 30:10:10 phun lên toàn bộ bề mặt của lá cây, lượng pha 300g/thùng 220L. Khi cây trồng đã tạo được số cành nhánh thích hợp, tiến hành thay thế loại phân 30:10:10 sang loại phân có hàm lượng NPK: 20:20:20. Cuối cùng khi trạng nguyên bắt đầu có hiện tượng phân hóa mầm hoa (lá non mới ra có tía đỏ) tiến hành chuyển sang loại phân có hàm lượng NPK: 10:30:30.

Bệnh

1. Bệnh hại

Bệnh thối gốc: Bệnh phát sinh nhiều do chế độ twois nước tưới phân không hợp lý, giá thể thường xuyên trong tình trạng độ ẩm cao. Gốc cổ rễ bị thối có màu nâu, vỏ long ra, khi nhổ cây lên rễ trong đất rời ra. Phòng trừ: sử lý tốt giá thể trước khi trồng, sử dụng một số loại thuốc hoá học:   Benlate C 15- 20g/bình 8lít, Rhidomil MZ 72WP 20 -25 g/ bình 8 lít, Validamycin 50 SC 10 - 20ml/ bình…

Bệnh đốm lá: Vết bệnh ban đầu là những hình tròn nhỏ hoặc bất định, màu nâu nhạt, nâu đen, nằm rải rác ở phiến lá dọc gân lá, ở mép lá. Bệnh lan từ lá dưới lên lá trên. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau đây để phòng trừ: Anvil 5SC 10 –15 ml/bình 8 lít; Tospin M 70 NP 8 –10 g/bình 8 lít; Vimonyl 72 BTN 25 –30 g/bình 8 lít.

Bệnh phấn trắng: Vết bệnh dạng bột phấn màu trắng xám, mặt dưới lá mô bệnh chuyển màu vàng nhạt, bệnh hại lá là chủ yếu ngoài ra còn hại trên thân, cành hoa làm lá nhanh tàn, thối nụ, hoa nhỏ, xấu. Dùng các loại thuốc sau: Ridomil 500 SC 5 – 8ml/bình 8 lít, Score 250 ND 10 15 ml/bình 8 lít, New Kausan 16,6 BTN 10 15 g/bình 8 lít nước.

Bệnh héo xanh vi khuẩn: Vi khuẩn tác động vào bộ phận gốc rễ, vết bệnh màu trắng đục ủng nước, cây bị bệnh héo xanh, thường héo từ lá gốc lên trên, bẻ ngang cuống lá có bí mạch thâm đen. Sử dụng một trong các loại thuốc sau để phòng trừ: VibenC 50 BTN 20 – 25 g/ bình 8 lít, Ner Kasusan 16,6 BTN 10 – 15 g/ bình 8 lít Streptomicin 100 150 ppm.

2. Sâu hại

Nhóm sâu ăn lá (sâu xanh, sâu khoang, sâu xám): Sâu tuổi nhỏ ăn phần thịt lá để lại lớp biểu bì phía trên. Sâu tuổi lớn ăn khuyết lá non, ngọn non, mầm non. Sử dụng: Supracide 40 ND 10 –15 ml/bình 8 lít, Pegasus 500 SC 7 – 10 ml/bình 8 lít, Ofatox 40 EC 8 – 10 ml/bình 8 lít.

Nhện hại (nhện đỏ hai chấm, nhện trắng và một số loại nhện khác): Nhện châm vào lá chỗ bị hại tạo thành vết chấm màu nâu vàng nhỏ tách riêng nhau. Khi bị hại nặng lá loang nổ màu vàng, nâu, biến dạng cong queo, lá màu nâu vàng, hoa lệch hoặc bị dị dạng, hoa tàn và thối. Các loại thuốc phòng trừ là: Pegesus 500 EC 8 –10 ml/ bình 8 lít, Mitac 20 ND 30 – 40 ml/bình 8 lít, ortus 5 SC 10 ml/bình 8 lít, Vimite 10 ND 10 –15 ml/ bình 8 lít...

Rệp nhảy: Rệp nhảy gây hại rất nghiêm trọng cho trạng nguyên. Rệp nhảy có miệng chích hút, hút dịch lá và nụ non. Cây bị rệp hại, sinh trưởng chậm, lá cong lại, trên lá có nhiều chất bài tiết dính, màu nâu đen, ảnh hưởng đến quang hợp, bị nặng, lá sẽ bị chết khô. Sử dụng : Supracide 40 ND 10 - 15ml / bình 8 lít; Polytrin P- 440 EC 15- 20 ml/ bình 8 lít; Ofatox 440 EC 8- 10 ml / bình 8 lít.

Bọ trĩ: Sâu non và trưởng thành chích hút dịch lá cây, cây bị hại nặng còi cọc không phát triển. Phòng trừ: Trước khi trồng vệ sinh trong và ngoài nhà lưới, nhặt sạch cỏ dại, nhặt bỏ lá già. Khi phát hiện thấy triệu chứng có thể dùng một trong các loại thuốc hoá học sau: Bassa 50 EC 15 -20ml/ bình 8 lít, Match50 ND 10ml/ bình 8 lít, Suprathion 40 EC 15- 20ml/ bình 8 lít ….

Tác dụng y học

Tính vị, tác dụng: Theo y học cổ truyền Trung Hoa, cây hoa trạng nguyên có vị đắng, chát, tính mát, có ít độc; có tác dụng điều kinh chỉ huyết, tiếp cốt tiêu thũng.

Công dụng, chỉ định và phối hợp:

Cây hoa Trạng nguyên, ngoài mục đích trồng để tạo mỹ quan mà ở Vân Nam (Trung Quốc), nó còn thường được dùng để chữa kinh nguyệt quá nhiều, đòn ngã tổn thương, ngoại thương xuất huyết và gẫy xương.

Dân gian thường dùng cành lá làm thuốc đắp trị rắn rết cắn, các vết đứt và cả các vết thương khác. Cũng dùng uống trong chữa bệnh đau đường ruột mạn tính.

Giá trị kinh tế

Thích hợp trồng ở công viên, các cửa hàng lớn, hay trong sân nhà, cũng có thể dùng làm cành hoa. Thân và lá có thể dùng làm thuốc chữa trị các vết thương do ngã hoặc va chạm.

Ý nghĩa

Còn được gọi là hoa Giáng sinh, nguồn gốc cây trạng nguyên là một huyền thoại. Truyền thuyết kể rằng có một cậu bé tên là Pablo không đủ tiền mua một món quà để dâng lên Chúa Kitô vào đêm Giáng sinh, cậu đã ao ước có một món quà dâng chúa nhưng cậu quá nghèo, và cuối cùng cậu đã chọn một ít cỏ dại từ hai bên đường đi với hy vọng Chúa sẽ tha thứ cho món quà nhỏ bé, nghèo nàn này. Khi mang món quà đến, nó được chúa chấp nhận bởi Ngài thấy được tấm lòng, sự yêu thương trong đôi mắt của Pablo. Lập tức những cành cỏ dại biến thành những bông hoa màu đỏ rực rỡ, có màu đỏ mà bây giờ chúng ta gọi là cây trạng nguyên, và mọi người đã chứng kiến ​​một phép lạ trong đêm Giáng sinh ấy. Kể từ đó, hoa trạng nguyên được xem là biểu tượng của giáng sinh, là món quà dâng lên Chúa, là phép màu trong tâm hồn.

Hoa trạng nguyên là cây trồng trong chậu phổ biến, đặc biệt trong dịp Giáng sinh. Tại Mỹ, hoa Trạng nguyên có một lịch sử khác, chúng được đặt tên sau khi đại sứ đầu tiên của Mỹ đến Mexico, Tiến sĩ Joel Robert Poinsett người đã giới thiệu loại cây này đến Hoa Kỳ vào năm 1825.  Say mê những bông hoa đỏ rực quyến rũ này, ông vận chuyển một số về tặng bạn bè của mình Charleston, South Carolina. Đây là nguồn gốc của việc đặt tên những cây hoa trạng nguyên trong thế kỷ này- Poinsettia, theo tên của ông. Trạng nguyên cũng được gọi bằng tên khác như hoa mùa đông, hoa tôm hùm, lá lửa Mexico, ngôi sao giáng sinh và hoa giáng sinh.

Ở Việt Nam, nguồn gốc của hoa trạng nguyên cũng gắn liền với tên của chúng. Trong dân gian Việt Nam, chuyện xưa kể rằng: Một cậu học trò lên kinh ứng thí, ngày đêm ôn luyện, quyết tâm đỗ trạng nguyên, trên đường lên kinh ứng thí, cậu thấy một cây lá xanh ven đường. Thấy có duyên lạ lùng. Sau khi thi xong đỗ trạng nguyên trở về làng. Ngang qua con đường ấy, anh bỗng nhận thấy trên ngọn cây những chiếc lá xanh ngày nào, giờ trở thành màu đỏ, dường như cây cũng đang chúc mừng anh thi đỗ. Trong lòng anh vui và hớn hở vô cùng. Từ đó, anh gọi cây này là cây hoa Trạng Nguyên. Dù là tên gọi gì, cây hoa Trạng Nguyên vẫn tượng trưng cho nét cao quí nhưng mộc mạc dịu dàng. Nó biểu hiện sự đoàn tụ, niềm hạnh phúc, bình an và niềm tin tưởng ở tương lai.

Trạng nguyên được dùng là hoa cảnh chúc mừng mang ý nghĩa sâu sắc cũng bởi truyền thuyết trên, người ta tặng nhau hoa trạng nguyên với mong muốn chúc cho nhau thành đạt, đỗ đạt, thành công trong cuộc sống, thi cử, làm ăn hoặc học hành.

Ngày tốt nghiệp, một chậu hoa trạng nguyên chúc mừng được gửi đến tận nhà cùng tấm thiệp xinh xắn với lời chúc mừng, chắc hẳn trong lòng người nhận phải vui và cảm động đến chừng nào.

Phân loại

 

Các giống trạng nguyên cũng được tạo ra với các lá bắc màu cam, vàng nhạt, kem hay cẩm thạch.

Hiện nay, người ta biết chính xác có 109 thứ trạng nguyên, nhưng theo kết quả một số cuộc điều tra thì khoảng 69% người Mỹ thích trạng nguyên “hoa” đỏ, 7% thích loại “hoa” trắng và 14% thích “hoa” hồng (Trang về trạng nguyên, Đại học Illinois).

Bình luận