Sen

Nelumbo nucifera là danh pháp khoa học của sen hồng (các tên gọi khác sen đỏ, sen Ấn Độ; trong các thư tịch Phật giáo và văn học tại Việt Nam, sen hồng còn được gọi bằng các tên gốc Trung văn như hà hoa (荷花), liên (hoa) (蓮(花)), hạm đạm (菡萏), phù cừ (芙蕖), thủy chi (水芝)). Về mặt thực vật học, Nelumbo nucifera (Gaertn.) đôi khi còn được gọi theo các danh pháp cũ như Nelumbium speciosum (Willd.) hay Nymphaea nelumbo. Đây là một loại cây thủy sinh sống lâu năm. Trong thời kỳ cổ đại nó đã từng là loại cây mọc phổ biến dọc theo bờ sông Nin ở Ai Cập cùng với một loài hoa súng có quan hệ họ hàng gần gũi có tên gọi dài dòng là hoa sen xanh linh thiêng sông Nin (Nymphaea caerulea); và hoa, quả cũng như các đài hoa của cả hai đã được họa lại khá rộng rãi như là một kiểu kiến trúc ở những nơi cần các hình ảnh linh thiêng. Người Ai Cập cổ đại sùng kính hoa sen và sử dụng nó trong các nghi thức tế lễ. Từ Ai Cập nó đã được đem đến Assyria và sau đó được trồng rộng rãi khắp các vùng Ba Tư, Ấn Độ và Trung Quốc. Nó cũng có thể là loài cây bản địa ở khu vực Đông Dương, nhưng ở đây có sự nghi vấn về điều này. Năm 1787, lần đầu tiên nó được đưa tới Tây Âu như một loài hoa súng dưới sự bảo trợ của Joseph Banks và có thể thấy được trong các vườn thực vật hiện nay mà ở đó có sự cung cấp nhiệt. Ngày nay nó là hiếm hoặc đã tuyệt chủng tại châu Phi nhưng lại phát triển mạnh ở miền nam châu Á và Australia. Nó là quốc hoa của Việt Nam và Ấn Độ.

Thân rễ của sen hồng mọc trong các lớp bùn trong ao hay sông, hồ còn các lá thì nổi ngay trên mặt nước. Các thân già có nhiều gai nhỏ. Hoa thường mọc trên các thân to và nhô cao vài xentimet phía trên mặt nước. Thông thường sen có thể cao tới 1,5 m và có thể phát triển các thân rễ bò theo chiều ngang tới 3 m, một vài nguồn chưa kiểm chứng được cho biết nó có thể cao tới trên 5 m. Lá to với đường kính tới 60 cm, trong khi các bông hoa to nhất có thể có đường kính tới 20 cm.

Có nhiều giống sen được trồng, với màu hoa dao động từ màu trắng như tuyết tới màu vàng hay hồng nhạt. Nó có thể chịu được rét tới khu vực 5 theo phân loại của USDA. Loài cây này có thể trồng bằng hạt hay thân rễ.

Phân bổ

Đây là một loại cây thủy sinh sống lâu năm.Trong thời kỳ cổ đại nó đã từng là loại cây mọc phổ biến dọc theo bờ sông Nin ở Ai Cập cùng với một loài hoa súng có quan hệ họ hàng gần gũi có tên gọi là “hoa sen xanh linh thiêng sông Nin” (Nymphaea caerulea); 

Người Ai Cập cổ đại sùng kính hoa sen và sử dụng nó trong các nghi thức tế lễ. Từ Ai Cập nó đã được đem đến Assyria và sau đó được trồng rộng rãi khắp các vùng Ba Tư, Ấn Độ và Trung Quốc. 

Cây sen cũng có thể là loài cây bản địa ở khu vực Đông Dương, nhưng ở đây có sự nghi vấn về điều này. Năm 1787, lần đầu tiên nó được đưa tới Tây Âu như một loài hoa súng dưới sự bảo trợ của Joseph Banks và có thể thấy được trong các vườn thực vật hiện nay mà ở đó có sự cung cấp nhiệt. Ngày nay nó là hiếm hoặc đã tuyệt chủng tại Châu Phi nhưng lại phát triển mạnh ở miền nam Châu Á và Australia. Nó là quốc hoa của Ấn Độ.

Ở Việt Nam cây sen được trồng trong ao hồ khắp cả nước. Ở Nam Bộ cây sen địa phương còn mọc hoang ở nhiều nơi thuộc vùng ĐTM và Tứ giác Long Xuyên (nên phân biệt với các giống sen trồng nhập nội gần đây từ Trung Quốc và Đài Loan).

Chăm sóc

Sen trong ao

Sen có nhiều lợi ích kinh tế cao, có thể dùng làm thuốc, ướp trà, dùng làm thực phẩm và được biệt hơn bạn có thể dùng những bông hoa sen làm hoa cưới, hoa văn phòng và một số công dụng khác. Vì thế việc trồng sen để tăng thu nhập cũng rất quan trọng đối với nông dân có điều kiện đất đai phù hợp, chẳng hạn có ao, đầm có thể trồng sen, ruộng quá trũng hoặc phèn không thể trồng lúa có hiệu quả tuy nhiên để có hiệu quả cao việc trồng sen cần chú ý khâu chọn giống và bón phân như sau:

1. Chọn giống

Giống sen Trâu thường được chọn để trồng với mục đích lấy hạt. Giống này có kích thước thân, lá, hoa và gương to; hoa có màu hồng đậm. Nếu vì mục đích lấy ngó, thì chọn giống có thân, lá, hoa nhỏ hơn; hoa có màu hồng nhạt.
Chọn cây sen giống có 2 lá lớn, khỏe, thân, lá không bị gãy, thân ngầm (ngó) chưa phát triển quá dài dễ gãy. Giữ cây con cẩn thận trong mát, không bị héo trước khi trồng.

2. Cách trồng

Không nên trồng quá sâu hoặc quá cạn làm sen dễ bị nổi lên. Trồng cây cách cây 2m x 2m, khoảng 250 cây/1000m2. Sau trồng giữ mực nước trong ao, hồ, ruộng khoảng 20 – 25cm. Sau 10 ngày cây bén rễ nếu có cây bị chết cần giặm cho đủ.

Sau thời gian này, giữ mực nước tăng dần theo sự phát triển cây sen và khống chế trên dưới 50cm là tốt nhất.

Liều lượng và cách bón phân cho 1.000m2 ao sen: Phân có thể dùng super lân, urê và KCl. Bón lót toàn bộ phân lân trước khi trồng với lượng khoảng 40kg. Sau đó cứ sau 15 ngày bón thúc 1 lần với khoảng 2kg urê + 10kg super lân/1.000m2.
Bón thúc lần 5 có thêm kali với lượng vài trăm gram/1.000m2. Trước khi bón nên thay đổi nước trong ao trồng sen cho nước mới có phù sa vào và giữ cố định ở mức nói trên.

Sen cần bón cân đối đạm, lân và kali để tạo ra nhiều bông hoa đẹp nên cần thường xuyên bón phân. Nếu thiếu phân, cây cho hoa không ấn tượng, lá vàng và cây yếu. Mặt khác do sen trồng trong điều kiện ao, ruộng ngập nước sâu nên có thể kết hợp nuôi một số loài cá và động vật thủy sinh. Để môi trường trong ao tốt, khi bón phân cần chú ý loại phân và sử dụng đúng liều lượng.
Bón phân không gây ngộ độc cho động vật thủy sinh, nguồn nước và không kích thích tảo mọc nhiều. Lưu ý không nên bón phân dạng DAP hoặc phân gà vì chúng sẽ giúp tảo mọc dày, cạnh tranh oxy và đất sống với sen.

Sen Trong chậu

Nhân giống hoa sen thường dùng phương pháp tách cây nhưng cũng có thể gieo hạt. Có thể trồng cây hoa sen vào đầm, ruộng, vào chậu hoặc vại.

1. Phương pháp tách cây

Trước hết phải làm công tác chuẩn bị. Nếu trồng hoa sen lớn cần chuẩn bị vại (không đục lỗ) trong vại bỏ đất trồng giàu dinh dưỡng, đổ nước vào làm thành bùn (vớt bỏ vật tạp) và thêm một ít phân gà phân lợn làm phân lót. Thời gian trồng nên vào mùa xuân hè, khi nhiệt độ lên tới 25 độ C.

Hoa sen ưa mọc nơi đủ ánh sáng, ấm áp. Chậu và vại nên đặt ở nơi hướng đông nam, tránh gió. Ngoài ra, khi đào ngó sen làm giống của cây năm trước, cần đào cây chồi đỉnh có 2 đốt hoàn chỉnh, đem chồi đỉnh đặt nghiêng vào trong bùn, sâu 15-20cm, sau khi trồng 1 tuần không nên đổ nước, để cho ngó sen cố định trong bùn, xúc tiến nảy chồi. Khi mới mọc lá nhỏ, cuống lá dài mềm, lá nổi trên mặt nước. Tùy theo lá nổi và độ dài cuống mà đổ nước. Từ khi trồng đến khi ra hoa mất khoảng 110 ngày.

2. Phương pháp gieo hạt

Nói chung, hạt sen có vỏ rất cứng. Chọn hạt sen có vỏ, dùng mũi dao bóc đỉnh hạt khoảng 2-3mm, làm cho nước có thể ngấm vào, bỏ vào nước ngâm 2-3 ngày, chờ hạt phình lên gieo vào chậu (đất chậu được xử lý giống như phương pháp tách cây). Sau đó bỏ chậu vào vại nước, giữ 3-4cm nước trên mặt chậu. Để 8-10 ngày trong điều kiện nhiệt độ 25-30 0C, sẽ có chồi nhỏ, rồi lớn dần thành lá, đến năm thứ 2 cây sẽ ra hoa.

3. Chăm sóc

Cây sen bị chết vào cuối mỗi năm. Khi chúng bị chết, hãy cắt hết phần thân trên chỉ để lại khoảng 10 cm phía trên củ rễ. Cứ để chúng như vậy và đến đầu hè chúng sẽ mọc trở lại. Chúng cần thời tiết ấm và sẽ mọc lại khi nhiệt độ nước lên đến hơn 70 độ F.

Cách tạo bùn trồng sen trong chậu

Bạn chọn 1 cái chậu to cỡ cái lu to, mua vài củ sen còn tươi.

Cho đất sạch loại bán trong bịch vào 1/4 lu , sau đó đặt củ sen vàovà bạn bỏ thêm vào tất cả 2/3 lu, nén chặt đất xuống.

Sau đó tưới nước ( đừng xịt quậy tung lên vì củ sen sẽ bị nổi ) bạn đổ nước lên cái thau nhỏ để nước tràn ra từ từ, nhớ là đầy nước, tuần sau cho vào vài cặp cá bảy màu ( đẻ dữ lắm và chống muỗi).

Vài tuần sau lá sẽ mọc lên, càng nắng càng tốt, nếu bạn trồng lâu thì 1 tháng cho vào 1 ít N.P.K, hay phân bánh dầu.
Đảm bảo bạn sẽ có hoa sen nếu đừng hái bạn sẽ thu hoạch gương sen, không gì khoái bằng đêm trăng mà bẻ vài gương sen.

Bệnh

Sâu ăn tạp

Sâu ăn tạp Spodoptera litura thường xuất hiện và gây hại trong mùa nắng, chủ yếu ăn lá non đến trưởng thành. Sâu lớn nên dể thấy, ăn nhiều làm rách lá nên nông dân rất sợ và phun nhiều loại thuốc có độc tính cao để trị như: Lanate, Confidor. Tuy nhiên sâu có một số nhược điểm sau: sâu chỉ ăn rãi rác từng lá, phải vào bờ hóa nhộng, sâu sống tập trung nên dể trị bằng thuốc theo 4 đúng. Một số nông dân có kinh nghiệm trong lúc thu hái hoặc đi chăm sóc nếu phát hiện thì hái lá sen gói lại vùi xuống đất để giết sâu biện pháp này không tốn tiền hiệu quả rất cao.

Bù lạch Scirtothrips dorsalis:

Bù lạch Scirtothrips dorsalis: xuất hiện suốt vụ thường có mật số rất cao trong mùa nắng, tấn công hầu hết trên các bộ phận còn non của cây nên gây hại nhiều đến năng suất. Triệu chứng dể thấy trên lá bị co rúm, làm giảm quang hợp, cuống bị chai sần và quăn queo, gương nhỏ và méo mó, hạt không chắc hoặc bị thoái hóa. Bù lạch có kích thước rất nhỏ có mật số rất cao nhiều khi lên đến 1000 con/lá và vòng đời ngắn khoảng 2 tuần lễ, nên rất khó cho nông dân phát hiện và trị dứt điểm. Do đó nhiều nông dân thâm canh đã phun thuốc liên tục trong suốt vụ.

Ngoài ra một số đối tượng khác xuất hiện và gây hại trên cây sen như: dòi đục lá chỉ gây hại trên lá trải; Cào cào gây hại trên lá bông, gương; Rầy mềm gây hại trên lá, bông non; Ốc bươu vàng gây hại trên Ngó, lá mát; Chuột gây hại trên gương…

Bệnh hại:

Bệnh hại: Chủ yếu bệnh thán thư Colletotrichum sp. gây hại nặng nhất trên cây sen tấn công trên hầu hết các bộ phận của cây sen như: Lá, bông, hạt, gương; các bệnh khác xuất hiện lẻ tẻ không quan trọng. Bệmh gây hại quan trọng nhất là lá và bông khi còn dưới mặt nước nấm bệnh đã tấn công khi lú khỏi mặt nước bệnh đã làm thối lá hoặc bông vì vậy việc phun thuốc hiệu quả rất thấp. Bệnh gây hại rất nặng có những lúc bệnh xuất hiện gây hại với tỷ lệ 40-50%, tuy nhiên cây sen có khả năng đền bù rất lớn nên ít ảnh hưởng năng suất mà chỉ chậm thời gian thu hoạch của đợt đó. Theo kinh nghiệm để phòng trừ đạt hiệu quả lúc sen ra đọt non, bông rộ rút nước cạn phun thuốc ngừa bằng những loại thuốc đặc trị sau 3 ngày cho nước vào ruộng trở lại hiệu quả khá cao.

Tác dụng y học

Dùng chữa tim hồi hộp, mất ngủ, di mộng tinh. Ngày uống 4-10g tâm sen khô dưới dạng thuốc sắc hay thuốc pha, có thể thêm đường cho dễ uống.

Theo tài liệu cổ, tâm sen có vị đắng, tính hàn. Có tác dụng thanh tâm khứ nhiệt. Dùng chữa tâm phiền, thổ huyết.

Những vị thuốc khác lấy từ sen ra:

1. Liên ngẫu

Ngó sen-Nodus Rhiiomatis Loti.

Trong ngó sen có asparagin 2% acginin, trigonelin, lyrocin, ête photphoric, glucoza, vitamin C. Trigonelin C-PLNO, kết tinh trong rượu loãng sẽ ngậm 1 phân tử nước. Nếu đun tới 100°C sẽ mất nước. Độ chảy 2180 rất dễ tan trong nước, trong rượu, gần như không tan trong ête và clorofoc.

Công dụng và liều dùng. Làm thức ăn, thuốc cầm máu, dùng trong những trường hợp đi ngoài ra máu, tiểu tiện ra máu, nôn ra máu, máu cam, tử cung xuất huyết. Ngày dùng từ 6-l2g dưới dạng thuốc sắc.

2. Thạch liên tử

Fructus Nelumbinis-ta vẫn gọi nhầm là hạt sen chính là quả sen, có vỏ quả, nếu bóc lấy hạt, ta sẽ được liên nhục hay liên tử (Semen Nelumbinis). Trong liên nhục, người ta đã phân tích thấy có nhiều tinh bột, trigonelin, đường (raffinoza) C18H320165H20, protit 16,6%, chất béo 2%, cacbon hydrat 62%-canxi 0,089%, photpho 0,285%, sắt (Fe) 0,0064%.

Công dụng và liều dùng: Thạch liên tử thường dùng chữa lỵ cấm khẩu với liều từ 6 đến 12g dưới dạng thuốc sắc.

Liên nhục-. Thuốc bổ, cô' tinh, chữa di tinh, mất ngủ, thần kinh suy nhược. Ngày dùng từ 10 đến 30g dưới dạng sắc hay thuốc bột. Theo tài liệu cổ liên tử vị ngọt, tính bình. Có tác dụng bổ tỳ, dưỡng tâm, sáp trường, cố tinh. Dùng chữa tỳ hư sinh tiết tả (ỉa chảy), di mộng tinh, băng lậu, đới hạ.

3. Liên phòng

Receptaculum Nelumbinis là gương sen già sau khi đã lấy hết quả rồi, phơi khô. Trong liên phòng có protit 4,9%, chất bé 0,6%, cacbon hydrat 9%, carotin 0,00002%, nuclein 0,00009%, vitamin C 0,017%.

Công dụng và liều dùng:

Thuốc cầm máu: Dùng chữa bệnh đi đại tiện ra máu, bệnh băng đới. Ngày dùng 15-30g dưới dạng thuốc sắc.

Theo tài liệu cổ liên phòng có vị đắng, chát, tính ôn, vào 2 kinh can và lâm bào. Có tác dụng tiêu ứ, cầm máu. Dùng chữa ứ huyết bụng đau, đẻ xong nhau chưa ra, băng huyết, tiểu tiện ra máu, tiểu tiện khó khăn.

Đơn thuốc chữa băng huyết sau khi đẻ
Gương sen 5 cái, hương phụ 80g. Đốt cháy, tán nhỏ. Ngày uống 8-24g, chia 2-3 lần uống.

4. Lá sen:

Hà diệp-Folium Loti.

Trong lá sen có chừng 0,20-0,30% tanin, một lượng nhỏ ancaloit gồm nuxiferin C19H21O2N, nonuxiferin C18H1902N và roemerin C18H1702N các chất khác chưa rõ. Trong cuống lá có một lượng nhỏ roemerin và nonuxiferin.

Công dụng và liều dùng:

Thường người ta cho lá sen cùng một công dụng với gương sen, Nhưng khi bệnh cấp thì dùng lá sen. Liều dùng 15-20g: Dưới dạng thuốc sắc. Theo tài liệu cổ lá sen vị đắng tính bình, vào 3 kinh can, tỳ và vị. Có tác dụng thăng thanh tán ứ, thanh thử hành thuỷ. Dùng chữa thử thấp tiết tả, thủy chí phù thũng, lôi đầu phong, nôn ra máu, máu cam, băng trung huyết lỵ.

5. Liên tu

Stamen Nelumhinis tức là tua nhị đực của hoa sen bỏ hạt gạo đi, rồi phơi khô.

Thành phần hoá học: Tanin, các chất khác chưa rõ.

Công dụng và liều dùng: Chữa băng huyết, thổ huyết, di mộng tinh. Ngày uống 5-10g dưới dạng thuốc sắc.

Giá trị kinh tế

1. Thường được trồng rộng rãi tại các nơi thanh tịnh như chùa chiền, cũng có thể trồng làm cây xanh dưới nước hoặc trong các lu nước.

2. Thân rễ có thể dùng như rau hoặc chiết lấy tinh bột, hạt có thể ăn được, lá có thể dùng làm trà.

3. Toàn cây có thể dùng làm thuốc.

Giá trị dinh dưỡng và dược liệu

  • Hạt sen: có hàm lượng tinh bột và đường rất cao, các chất béo, đạm, canxi, phốt pho, sắt. Theo Đông y, hạt sen có tác dụng bổ tâm, an thần, trị bệnh mất ngủ, suy nhược thần kinh, tỳ vị hư hàn, kiết lỵ lâu ngày.
  • Tâm sen: vị đắng, tính hàn, không độc. Tác dụng: an thần chữa mất ngủ, khát nước sau khi đẻ do hư nhiệt. Hàng ngày dùng 6 12g. Tâm sen rang vàng sắc với 2 bát nước còn 1 bát, uống thay nước chè, dùng trong mùa hè để giải nhiệt trừ cảm nắng.
  • Gương sen (hạt để riêng): vị đắng, chát, mùi thơm, tính ấm. Gương sen xé nhỏ, sấy giòn, tán bột ăn có tác dụng tiêu ứ, tiêu khát, cầm máu, trị băng huyết, đái ra máu, chữa bệnh đái đường rất công hiệu. Gương sen để càng lâu càng có tác dụng chữa bệnh tốt.
  • Ngó sen: trong ngó sen có tinh bột, đường glucoza, vitamin C. Dùng tươi hoặc thái mỏng phơi khô để dùng dần.
  • Lá sen: có chất ancaloid làm dịu đau, an thần, chống co giật, giải nhiệt, trừ cảm nắng, làm thuốc cầm máu, chữa thổ huyết, băng huyết, mất ngủ.
  • Cuống sen: Mang lá phát triển, không ăn được nhưng có tác dụng làm thuốc trị tiêu chảy, kiết lỵ.
  • Củ sen: Vừa  là thực phẩm bổ dưỡng, vừa là vị thuốc quý.
  • Ghi chú: Các giá trị dinh dưỡng và dược liệu trên đây chỉ có trong giống sen địa phương, các giống sen nhập nội theo mục đích kinh tế như sen chuyên lấy ngó, lấy củ, lấy hạt…không có giá trị như các giống sen địa phương.

Ý nghĩa

Hoa Sen Thể hiện sự kính trọng, tôn nghiêm. Hoa dành tặng cho Mẹ, chị gái hoặc người phụ nữ mà bạn tôn kính. Ngoài ra nó còn mang nghĩa thanh cao, thuỳ mị, trong sạch.

Hoa sen là một lọai hoa thanh khiết và có truyền thống lâu đời nhất ở phương Đông. Đây là một lòai thực vật sống dưới nước có nguồn gốc Á Châu và chiếm giữ một vị trí cổ xưa trong tất cả nền văn hóa đặc biệt của phật giáo. Những cánh, nhụy và gương hạt đã cấu thành một bông hoa sen có nét đẹp thanh thóat và màu tươi sáng.
 
Hoa sen mọc trong bùn, sống trong bùn nhưng vượt lên khỏi nó để hướng đến mặt trời mà không hề bị bùn làm ô nhiễm, vấy bẩn. Cũng giống như một người được sinh ra trên thế giới, tồn tại giữa cuộc đời nhưng đã vượt thoát khỏi sự tham lam, sâu hận, dục vọng và không bị vấy bẩn, ô nhiễm bởi dòng đời.

Ở Việt Nam, Sen được xếp vào bộ tứ quý (4 mùa): Lan, sen, cúc, mai và xếp vào hàng “tứ quân tử” cùng tùng, trúc, cúc. Hoa sen rất thích hợp với môi trường có khí hậu nhiệt đới như nước ta. Từ Bắc vào Nam, nó có mặt khắp mọi nơi, gần gũi và thân thiết với mọi người như cây tre, cây đa… Nếu ở miền Bắc, hoa sen chỉ nở vào mùa hè, thì ở hầu khắp miền Nam quanh năm đâu đâu cũng thấy sen khoe sắc thắm
 
Trong lòng mỗi người dân Việt, sen là loài hoa tượng trưng cho vẻ đẹp tươi sáng, cao sang và thuần khiết mang tính chất dân tộc. Chính vì thế, hoa sen luôn là nguồn cảm hứng bất tuyệt của thi ca và nghệ thuật…

Đặc biệt trong tư tưởng Phật giáo, hoa sen được tôn quý và chiếm vị trí rất quan trọng. Tinh thần “cư trần bất nhiễm trần”, đó cũng chính là ý nghĩa của hoa sen biểu trưng cho những giá trị đạo đức, sự thuần khiết và thánh thiện, sự duy trì và phát triển của Phật pháp, trí tuệ dẫn đến niết bàn. Ở đây, hoa sen là sự giác ngộ, đạt được sự trong sáng và giải thoát khỏi bùn nhơ…
 
Giản dị, tao nhã và thuần khiết, sen là hiện thân cho tính cách, lối sống và tâm hồn người Việt. Sen còn là món quà vô giá từ thiên nhiên, bởi từ sen có thể chế biến những thực phẩm bổ dưỡng, những bài thuốc đặc trị.

Sen thơm, hương lại hữu sắc. Dù trong hoàn cảnh nào sen cũng hàm chứa trong nó sự tinh tế, thuần khiết, cao đẹp. Nó thật sự là biểu trưng tiêu biểu nhất cho văn hoá và cốt cách nhân văn của người Việt Nam.

Phân loại

Họ này chỉ được một số ít các nhà phân loại học công nhận. Các loài trong họ này thường được gộp chung vào họ Súng (Nymphaeaceae).

Hệ thống APG II năm 2003 (không thay đổi từ hệ thống APG năm 1998) công nhận họ này và đặt nó trong bộ Quắn hoa (Proteales), trong nhánh eudicots.

Hệ thống Cronquist năm 1981 cũng công nhận họ này nhưng đặt nó trong bộ Súng (Nymphaeales) thuộc phân lớp Magnoliidae của lớp thực vật hai lá mầm (Magnoliopsida).

Hệ thống Dahlgren và hệ thống Thorne (1992) cũng công nhận họ này và đặt nó trong một bộ riêng của chính nó là bộ Sen (Nelumbonales) thuộc siêu bộ Magnolianae của phân lớp Magnoliidae [=thực vật hai lá mầm].

Bình luận