Phượng Vĩ

Phượng hay phượng vĩ, phượng vỹ, xoan tây, điệp tây (danh pháp hai phần: Delonix regia) (họ Fabaceae), là một loài thực vật có hoa sinh sống ở vùng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Tên gọi trong tiếng Trung của nó là 鳳凰木 (phượng hoàng mộc), 金鳳 (kim hoàng). Tên thông dụng trong tiếng Anh là: Flamboyant, Royal poinciana và Mohur tree.

Đặc điểm hình thái

Phượng là cây gỗ lớn cao từ 10 đến 15 m, vỏ thân màu xám trắng, nhẵn, phân cành nhánh nhiều, lớn, dài, mọc nghiêng, tán rộng. Lá kép lông chim 2 lần với 20 đôi lá phụ, lá rụng thưa vào mùa khô tháng 1 – 3 hàng năm, sắc lá có màu xanh bóng. Hoa nở đỏ rực vào những cơn mưa đầu mùa cuối tháng 4 đầu tháng 5. Hoa cụm lớn dài 20 – 30 cm, nang hoa xếp thưa, xòe rộng, hoa lớn màu đỏ tươi hay đỏ cam với cánh tràng có cuống dài, phiến rộng, dúm răn reo, trong đó có cánh lớn màu cam đỏ và các vạch đốm màu trắng, nhị có bao phấn cong màu đỏ. Quả Phượng rất lớn, dài 20 – 60 cm, rộng 4 – 6 cm, dẹp, vỏ hóa gỗ, hạt cứng, dài, đen có vân màu. Phượng cần khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới để phát triển tốt, nhưng nó có thể chịu được các điều kiện khô hạn và đất mặn.

Cây tái sinh hạt và chồi đều mạnh, có thể phát triển tốt trên mọi loại địa hình: ven biển, đồi núi, trung du. Cây thuộc loại ưa sáng, mọc khoẻ, phát triển nhanh, không kén đất, rất dễ gây trồng. Tuy nhiên, nhược điểm lớn là tuổi thọ không cao: cây trồng trên đường phố chỉ 30 tuổi là đã già cỗi, thân có dấu hiệu mục rỗng, sâu bệnh, nấm bắt đầu tấn công. Còn cây trồng trong công viên, trường học thì có thể có tuổi thọ cao hơn nhưng cũng chỉ đạt 40-50 năm tuổi.

Phân bổ

Phượng phân bố rộng rãi ở các nước nhiệt đới ẩm mọc tốt ở những nơi có lượng mưa từ 1.00 đến 2.00 mm/năm.

Phượng vĩ được trồng khá phổ biến tại khu vực Caribe.

Cây phượng vĩ tại Blakiston St, Harare, Zimbabwe, 1975

Tại Hoa Kỳ, nó được trồng ở khu vực Florida, thung lũng Rio Grande ở miền nam Texas, các sa mạc ở Arizona (đến tận Tucson, Arizona) và California, Hawaii, Puerto Rico, quần đảo Virgin và Guam. Nó là loài cây biểu tượng chính thức của quần đảo Bắc Mariana(CNMI).

Phượng vĩ được coi là đã thích nghi với thủy thổ ở nhiều khu vực mà người ta trồng nó, và bị coi là loài xâm hại tại Úc, một phần là do các bóng râm cũng như bộ rễ của nó đã ngăn cản sự phát triển của nhiều loài thực vật bản địa mọc dưới tán lá của nó. Nó cũng được tìm thấy tại Ấn Độ, tại đây người ta gọi nó là gulmohar.

Tại Việt Nam, phượng vĩ được người Pháp du nhập vào trồng khoảng những năm cuối thế kỷ 19 tại các thành phố lớn như Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn. Hiện nay phượng vĩ là loài cây được trồng rộng rãi từ miền Bắc vào miền Nam trên vỉa hè, công viên, trường học. Thành phố Hải Phòng còn được gọi là thành phố Hoa phượng đỏ; nơi đây hoa phượng được trồng khắp nơi, có cả một công viên hoa phượng ngay trung tâm thành phố, có lễ hội hoa phượng diễn ra vào tháng 5 rất độc đáo.

Chăm sóc

1/ Điều kiện sinh sống:

Phân bố rộng rãi ở các nước nhiệt đới ẩm, được du nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỷ 19, mọc tốt ở những nơi có lượng mưa từ 1.000 đến 2.000 mm/năm.

2/ Chọn nguồn giống:

– Cây bố mẹ được chọn phải là cây khỏe mạnh, không cong queo sâu bệnh, hình dáng đẹp, tán đều, tuổi cây từ 10 – 20 để lấy giống.

– Quả to dài từ màu xanh chuyển sang màu nâu là lúc quả chín, lúc đó có thể hái quả, tách hạt để gieo ươm. Quả thường chín vào tháng 1 – 3 dương lịch những quả chưa chín được ủ lại thành từng đống từ 2 – 3 ngày cho quả chín đều, đống ủ không cao quá 50 cm và phải thông gió, mỗi ngày đảo lại một lần. Khi quả chín đem rải đều phơi vài ba nằng nhẹ để tách hạt, thu hạt hằng ngày, sau đó hong khô ở nơi râm mát 2 – 3 ngày. Khi hạt đã khô, sàng bỏ hết tạp vật, thu hạt tốt, cho vào bảo quản nơi khô ráo. Hạt có lớp vỏ cứng  bao bọc, dễ bảo quản. Nên dự trữ hạt nơi khô ráo, có ẩm độ thấp.

3/ Tạo cây giống:

– Trước khi gieo, xử lý hạt bằng nước ấm (40 – 50 độ C),  hai phần nước sôi ba phần nước lạnh, ngâm hạt trong nước ấm và để nguội dần sau 12 giờ. Sau đó đãi hạt lép bỏ đi, rồi ủ trong túi vải, mỗi ngày rửa chua 1 lần trong nước ấm (30 – 40 độ C), Sau 3-5 ngày hạt trương cò hiện tượng nứt nanh, lựa những hạt này cho vào bầu ươm cây con hay đem gieo vào các khay cát. Khi cho hạt vào bầu đất hay khay cát cần lấp đất dày 1 cm, sau đó tủ rơm rạ và làm giàn che cho cây con. Độ che bóng từ 60 – 75%, sau 2-3 ngày gieo, hạt bắt đầu nảy mầm, lúc này lấy bớt rơm rạ, tránh làm tổn hại cây con.

* Bầu đất:

– Vỏ bầu bằng túi P.E, kích thước 15 x 20cm, nếu trồng phục vụ cho cây cảnh quan đô thị, kích thước bầu phải lớn hơn.

– Ruột bầu: 80% lớp đất mặt tại chỗ hay có thể vận chuyển từ nơi khác đến, lớp đất này cần tán nhuyễn, kế tiếp ray lại bằng sàng cát và trộn 20% phân chuồng hoai. Tưới đẩm bầu trước khi gieo hạt.

– Thời vụ gieo ươm: tùy theo điều kiện tại chỗ và nguồn giống, có thể gieo ươm ở các tháng thích hợp. Tháng 2 – 3 dương lịch là thời điểm thích hợp nhất.

* Chăm sóc cây con:

– Thời gian đầu cần phải có giàn che, sau đó giảm độ che phủ từ từ và cho cây ra ánh sáng hoàn toàn.bằng cách giảm bớt giàn che, tăng thời gian chiếu sáng (chỉ che đậy khi nắng gắt hoặc trời mưa lớn).

ân NPK: 30 – 30 – 30, pha loãng 1% để tưới. Sau khi tưới phân cần tưới lại nước lã , để không làm cháy lá cây.

* Tiêu chuẩn cây giống:

Cây con khỏe mạnh, không sâu bệnh, cong queo, chiều cao tối thiểu 40cm – 80 cm, nhưng tùy theo nhu cầu có thể trồng cây lớn hơn 1m.

3/ Kỹ thuật trồng:

– Cây Phượng Vĩ được trồng chủ yếu cho nhu cầu cảnh quan, nơi công sở, trường học, thường được trồng phân tán, riêng rẻ.

– Cự ly trồng 6 x 6 m, hoặc 4 x 4m, mật độ trồng 280 cây – 625 cây, tùy theo điều kiện đất tốt hay xấu mà bố trí mật độ trồng cho thích hợp.

– Trước khi trồng cần tiến hành đào hố 40 x 40 x 40cm hay 60 x 60 x 60cm.

– Tiến hành bón phân: phân chuồng hoai ( 5 – 10 kg/ hố) và phân NPK (100gr/hố) trước khi đặt cây xuống hố ít nhất 15 ngày.

– Cách trồng: Dùng cuốc moi đất sao cho vừa đủ đặt cây con vào hố, đặt miệng bầu ngang mặt hố, nén chặt đất xung quanh, rồi lấp đất bằng mặt đất. Lấp đến đâu ặim chặt đến đất. Tưới nước sau khi lấp xong đất. Cây thường được trồng vào đầu mùa mưa.

4/ Chăm sóc, nuôi dưỡng:

– Đối với cây trồng cảnh quan đô thị: trồng cây có kích thước lớn (cao hơn 1,2m), do đó cần phải có khung sắt hoặc gỗ bảo vệ và phải có cây chống đở cây con.

– Cây cần được chăm sóc từ 3 – 4 năm đầu: phát sạch cỏ xung quanh gốc cây từ 1 – 2 lần/năm và bón cho mỗi gốc từ 100 – 150gr NPK và 5 – 10 kg phân chuồng.

– Cây cần được chăm sóc, bảo vệ không để cho người hoặc súc vất phá hại.

Bệnh

Cây con ở giai đoạn vườn ươm phải được thường xuyên chăm sóc, làm sạch cỏ để tránh sâu, bệnh gây hại. Để ngăn ngừa nấm hại, dùng Boocđo nồng độ 1% phun đều lên trên mặt lá với liều lượng phun 1 lít/4m2, 2 tuần/1 lần.

Khi phát hiện nấm bệnh thì tưới dung dịch Booc đo 1% hay COC 85 liều lượng 25 gram/1 - 2 bình 8 lít, phun sương đều trên mặt lá cây phượng với liều lượng phun 1 lít/4m2, 10 – 15 ngày phun 1 lần, liên tục 2 – 3 lần liền. Nếu sâu ăn lá hoặc một số côn trùng khác có thể dùng Bassa 50ND pha 1/400 – 1/600 hoặc dùng Methyl parathion 0,1% để phun. Nên phun thuốc vào buổi chiều. Sau khi phun thuốc 2 – 3 tiếng thì tưới lại bằng nước sạch.

Tác dụng y học

Đặc tính trị liệu :

● Delonix regia (Fabaceae), lá cây điệp hay cây phượng vĩ trong y học dân tộc Bangladesh dùng để chữa trị :

- bệnh tiểu đường diabète,
Nhưng mãi cho đến ngày nay, không có một nghiên cứu nào được thực hiện để hỗ trợ cho sự sử dụng này.
Một nghiên cứu thực hiện trên dung dịch trích từ lá Phượng vĩ trong méthanol, chứng minh có lợi ích trong việc giảm lượng đường huyết trong chuột gia tăng đường huyết.

● Lá phượng vĩ Delonix regia có hoạt động :

- chống viêm activité anti-inflammatoire.
Trong thí nghiệm trên bột của lá phượng vĩ, dung dịch trích với éthanol trong máy trích  Soxhlet. Dung dịch trích trong éthanol sau khi kiểm chứng sơ bộ hóa thực vật phytochimique  cho thấy sự hiện diện của :
- stérols, hợp chất phénolique ,
- triterpénoïdes,
- và flavonoïdes.
Hoạt động chống viêm được nghiên cứu thí nghiệm trên chuột bị phù thũng ở chân của chuột, với kỹ thuật cấy dưới da ( cotton pellet ) dạng hạt với nhiều nồng độ khác nhau, cho thấy dung dịch của lá phượng vĩ có một hoạt động quan trọng :
- chống viêm anti-inflammation trong tất cả mô hình thí nghiệm so với những nhớm đối chứng 

● Trong nghiên cứu 5 hợp chất :

- lupéol (1),
- epilupeol (2),
- β-sitostérol (3),
- le stigmastérol (4)
- và p-méthoxybenzaldéhyde (5) đã được phân lập từ éther de pétrole và các phân đoạn của  dichlorométhane của dung dịch trích trong méthanolique vỏ của thân cây Delonix regia.
Truy tìm hoạt động chống vi khuẩn trên những trích chất khác nhau được thực hiện bằng phương pháp khuếch tán trên đĩa…..
Kết quả xét nghiệm sinh học cho thấy các hợp chất trích từ Delonix regia có tính :
- cường toan,
- hoạt động kháng khuẩn,
- và gây độc tế bào.

Kinh nghiệm dân gian :

▪ Cây Phượng vĩ, hiện nay chưa thấy có những tài liệu nhiều về sử dụng y học trong dân gian ở những nước Châu Á…..
▪ Tại Bangladesh, trong y học truyền thống sử dụng để :
- Chữa trị bệnh tiểu đường diabètes.
▪ Rể tác dụng hạ nhiệt theo dân gian Việt Nam.

Nghiên cứu :

● Chống vi trùng Antibactérien :

Delonix regia là một trong 12 dược thảo nghiên cứu cho hoạt động kháng vi khuẩn.
Những dung dịch trích cho thấy dung dịch trích của phượng vĩ có tính kháng vi khuẩn nhất trong số 12 cây dùng nghiên cứu. Những vi khuẩn nhạy cảm nhất là Bacillus subtilis, tiếp đến là Staphylococcus epidermidis.

● Chống viêm Anti-inflammatoire:

Nghiên cứu đánh giá hoạt động chống viêm của lá, dùng một carragénine gây ra chứng phù nước của chân chuột và mô hình “ cotton pellet granuloma ”.
Kết quả cho thấy một hoạt động quan trọng chống viêm trong cả 2 mô hình.

● Thành phần Hoa / phénols và flavonoïdes:

Nghiên cứu để uớc tính hàm lượng hợp chất phénolique toàn phần và flavonoïdal của những bông hoa Phượng vĩ.
Những kết quả cho thấy rằng những bông hoa Phượng chứa lượng quan trọng hợp chất :
- phénols,
- và flavonoïdes,
với hàm lượng phénolique toàn phần cao hơn nhiều so với hàm lượng flavonoïdal.

● Bảo vệ gan hépatoprotecteur / gây độc tế bào cytotoxiques :

Nghiên cứu dung dịch trích trong éthanolique phân lập được 3 stérols gồm :
- stigmastérol,
- ß-sitostérol,
- và 3-O-gucoside,
- một triterpéniques (acide ursolique)
và 4 flavonoïdes :
- quercétine,
- quercitrine,
- isoquercitrine,
- và rutine,
Thêm một acide amine.
Những kết quả cho thấy một hoạt động :
- gây độc tế bào chống lại dòng tế bào ung thư gan cho người  (HepG2).
Nghiên cứu cũng cho thấy :
- một hoạt động bảo vệ gan chống lại với sự thiệt hại gan gây ra bởi  CCl4-, do đặc tính làm sạch những gốc tự do của các flavonoïdes.

● Chống bệnh tiểu đường Antidiabétique:

Nghiên cứu một trích xuất trong méthanolique của lá phượng vĩ, thữ nghiệm ở chuột gây ra bởi chất glucose hyperglycémiques cho thấy một hoạt động quan trọng :
- hạ đường máu hypoglycémique do đường uống.

● Hạt của chất nhầy Graine de mucilage / Tablet Binder:

Hạt của cây Phượng chứa glucomannose. Một chất nhày Mucilage thu được từ những hạt đã được sử dụng trong bào chế những viên nang thuốc tiêu carbonate de calcium.
Kết quả cho thấy chất nhày trong nội nhũ lấy từ hạt có đặc tính sử dụng.

Giá trị kinh tế

Ngoài giá trị là cây cảnh, nó còn có tác dụng như một loài cây tạo bóng râm trong điều kiện nhiệt đới, do thông thường nó có thể cao tới một độ cao vừa phải (khoảng 5 m, mặc dù đôi khi có thể cao tới 12 m) nhưng có tán lá tỏa rộng và các tán lá dày đặc của nó tạo ra những bóng mát. Trong những khu vực với mùa khô rõ nét thì nó rụng lá trong thời kỳ khô hạn, nhưng ở những khu vực khác thì nó là loài cây thường xanh. 

Quả phượng vĩ được sử dụng tại khu vực Caribe trong vai trò của bộ gõ âm nhạc với tên gọi: shak-shak hay maraca.

Gỗ thuộc loại trung bình, dùng trong xây dựng,đồ gỗ dân dụng, đóng hòm, xẻ ván. Cây cho vỏ và rễ làm thuốc hạ nhiệt,chống sốt. Vỏ cây có thể sắc nước uống trị sốt rét, đầy bụng, tê thấp, giảm huyết áp. Lá trị tê thấp và đầy hơi.

Trong ngành tinh chế hóa chất, hương và dầu thơm(essence) của phượng vĩ được dùng trong việc xoa bóp (massage) làm giảm căng thẳng cơ bắp. Hương phượng vĩ giúp chúng ta có thể tách rời khỏi những phiền toái, và những cuộc tranh cãi không cần thiết. Biết sử dụng hương hoa phượng, người ta có thể thoải mái hơn, cũng như cảm thấy nhẹ nhàng hơn để bắc nhịp cầu liên lạc giữa người với người.

Bởi mùi hương hơi nồng, nhưng lại rất dễ dàng ăn sâu vào lòng người, cũng như sự chuyển vận và dễ dàng hoà nhập vào môi sinh, phượng vĩ vì thế được người ta tin tưởng có tác dụng làm cho con người bớt căng thẳng, dễ dàng kết bạn, dễ đi sâu vào lòng người… Nó giúp người ta giao thiệp dễ dàng hơn, và lịch sự hơn với nhau, cũng như vượt qua được những bực bội, giận dữ, để tâm hồn thoải mái hơn.

Ý nghĩa

Tên "phượng vĩ" là chữ ghép Hán Việt - "phượng vỹ" có nghĩa là đuôi của con chim phượng. Đây có thể là một hình thức đặt tên gọi theo cảm xúc vì các lá phượng vỹ nhất là các lá non trông giống như hình vẽ đuôi của loài chim phượng.

Phượng vĩ có nguồn gốc từ Madagascar, tại đó người ta tìm thấy nó ở trong cánh rừng ở vùng Malagasy. Trong hoang dã nó là loài đang nguy cấp nhưng nó được con người trồng ở rất nhiều nơi.

Phượng vĩ được người Pháp du nhập vào Việt Nam trồng khoảng những năm cuối thế kỷ 19 tại các thành phố lớn như Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn. Hiện nay phượng vĩ là loài cây được trồng rộng rãi từ miền Bắc vào miền Nam trên vỉa hè, công viên, trường học. Thành phố Hải Phòng được gọi là thành phố Hoa phượng đỏ; nơi đây hoa phượng được trồng khắp nơi, có cả một công viên hoa phượng ngay trung tâm thành phố, có lễ hội hoa phượng diễn ra vào tháng 5 rất độc đáo.

Phượng vĩ biểu tượng của tuổi học trò.

Cái tên gọi “Hoa học trò”. Ai đó đã gọi một cách trìu mến và thân thương như vậy. Có lẽ vì phượng đã quá gần gũi và thân thuộc, bởi phượng đơm hoa là báo hiệu mùa hè sắp đến. Cô học sinh nhỏ sớm nay chợt giật mình: “Phượng nở rồi sao?”, rồi cô nhìn mông lung, ánh mắt đong đầy biết bao nhiêu là cảm xúc.

Hoa phượng loài hoa e ấp mối tình đầu.

Không hiểu từ bao giờ và ai đã có ý tưởng thật hay là trồng những cây phượng nơi trường học. Những bông hoa đỏ thắm như nhắc nhở cái ngày chia tay của niên học đã sắp gần kề. 

Hoa phượng không phải là một loài hoa hiếm, hoa nở liên tục từ khoảng giữa tháng 5 cho đến giữa tháng 9 , đôi khi vào tháng 10 người ta còn tìm thấy một vài chùm hoa dấu mình sau những tàn lá xanh. Hoa nở từng chùm, mỗi hoa có 5 cánh, 4 cánh mầu đỏ cam mang những vết loang mầu đỏ đậm, cánh thừ 5 dầy hơn những cánh kia đem lại cho hoa phượng một dáng kiêu sa với mầu trắng mượt điểm những vệt đỏ hài hoà như đuôi của một loài chim phượng cho nên hoa đã được gọi là hoa phượng vĩ. 

Khi còn trong nụ,nhất là khi nụ còn non phải để ý lắm mới phân biệt được sự khác nhau giữa các cánh hoa. Hình như trong chúng ta không một ai đã không một lần ép cho mình một vài cánh phượng giữa những trang vở học trò mang đầy nét chữ vụng dại.


Phượng tỏa hương khác với các loài hoa. Nó hăng hăng, chua chua nhưng không gắt như trái me, trái sấu, mà man mác đượm một nỗi niềm hoài vọng xa xôi. Phượng vừa là sự khởi đầu, vừa là sự kết thúc.

Hoa phượng vĩ cười trong nắng hạ 
Tuổi học trò tấc dạ bâng khuâng 
Ngày qua ta tiếc mùa xuân 
Hạ về chia rẽ tình thân tuổi ngà
(Hoa Sơn)

Có một điều đặc biệt là Quả phượng vĩ được sử dụng tại khu vực Caribe trong vai trò của bộ gõ âm nhạc với tên gọi: shak-shak hay maraca.

Gỗ thuộc loại trung bình, dùng trong xây dựng,đồ gỗ dân dụng, đóng hòm, xẻ ván. Cây cho vỏ và rễ làm thuốc hạ nhiệt,chống sốt. Vỏ cây có thể sắc nước uống trị sốt rét, đầy bụng, tê thấp, giảm huyết áp. Lá trị tê thấp và đầy hơi.

Phân loại

Các hoa của phượng vĩ lớn, với 4 cánh hoa tỏa rộng màu đỏ tươi hay đỏ hơi cam, dài tới 8 cm, còn cánh hoa thứ năm mọc thẳng, cánh hoa này lớn hơn một chút so với 4 cánh kia và lốm đốm màu trắng/vàng hoặc cam/vàng (cũng có khi trắng/đỏ). Thứ flavida nguồn gốc tự nhiên có hoa màu vàng (kim phượng). Quả là loại quả đậu có màu nâu sẫm khi chín, dài tới 60 cm và rộng khoảng 5 cm; tuy nhiên, các hạt riêng rẽ lại nhỏ và cân nặng trung bình chỉ khoảng 0,4 g, hạt to cỡ hai ngón tay út, hạt ăn rất bùi và ngon. Các lá phức có bề ngoài giống như lông chim và có màu lục sáng, nhạt đặc trưng. Nó là loại lá phức lông chim kép: Mỗi lá dài khoảng 30–50 cm và có từ 20 đến 40 cặp lá chét sơ cấp hay lá chét lông chim lớn, và mỗi lá chét lông chim lớn lại được chia tiếp thành 10-20 cặp lá chét thứ cấp hay lá chét con. Phượng vĩ cần khí hậu nhiệt đới hay cận nhiệt đới để phát triển tốt, nhưng nó có thể chịu được các điều kiện khô hạn và đất mặn.

Bình luận