Nghệ tây

Nghệ tây (danh pháp hai phần: Crocus sativus) là một loài thực vật thuộc họ Diên vĩ. Loài này được L. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1753. Nghệ tây là loài bản địa của Tây Nam Á và đã được trồng lần đầu ở Hy Lạp.Là bản sao di truyền đơn hình thái, loài này đã từ từ lan truyền khắp đại lục Á-Âu và sau đó đã được đưa đến các khu vực của Bắc Phi, Bắc Mỹ, và châu Đại Dương.

Gia vị làm từ nhụy hoa nghệ tây được gọi là saffron. Saffron nằm trong nhóm các gia vị đắt nhất thế giới. Saffron được thu hoạch từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11. Nhụy hoa được phơi khô đến một mức độ nhất định. Gia vi saffron sẽ được tạo thành với một vị đắng đặc trưng. Sau khi khô, nhụy hoa co lại còn khoảng 1/3 so với hoa tươi. Để có 1 kg saffron người ta cần đến 200.000 bông hoa và giá cho một kg nằm vào khoảng 7000-25000 euro. 

Nghệ tây - Crocus sativus - là một loại cây lâu năm cho hoa vào mùa thu và không rõ nguồn gốc trong tự nhiên. Tổ tiên của nó có lẽ là cây Crocus cartwrightianus ra hoa và mùa thu ở Địa Trung Hải, mà còn được biết với tên là "saffron dại" bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp. Saffron crocus có lẽ là kết quả của Crocus cartwrightianus sau khi được chọn lọc thủ công rộng rãi bởi người trồng để tìm phần nhụy dài hơn. C. thomasii và C. pallasii cũng có thể là nguồn gốc khác của nghệ tây.

Vì là thực vật tam bội vô sinh, nên nó có ba bộ nhiễm sắc thể tương tự nhau tạo thành từng phần bổ sung di truyền của mỗi mẫu; nghệ tây có tám nhiễm sắc thể mỗi bộ, và tổng cộng là 24 nhiễm sắc thể. Vì là vô sinh, phần hoa màu tím của nghệ tây không thể tạo ra hạt. Sự sinh sản của nó xoay quanh sự hỗ trợ của con người: phần củ dạng giả thân hành (corm) dưới mặt đất với các bộ phận chứa tinh bột cần phải được đào lên, đập vỡ ra và trồng lại. Củ của nghệ tây sống được một mùa, cho ra được tối đa mười "củ con" bằng cách phân chia sinh dưỡng, và chúng sẽ phát triển thành cây mới vào mùa tiếp theo. Những củ này là dạng đặc ruột, nhỏ, có màu nâu với đường kính tối đa là 5 cm. Chúng có đáy phẳng, được bao phủ bởi một lớp sợi song song khá dày. Phần này được gọi là "áo củ". Củ cũng có những sợi dọc mỏng và như một chiếc lưới, có thể dài đến 5 cm trên phần cổ của cây.

Cây phát triển đến chiều cao khoảng 20 – 30 cm, và cho ra 5 – 11 lá trắng không quang hợp được gọi là cataphyll (lá bao). Phần lá này có cấu trúc như các lớp màng sẽ bao phủ và bảo vệ lá thật của cây khi chúng nhú ra và phát triển. Các lá thật của cây thì có dạng tán, mỏng, thẳng và như lưỡi dao, với đường kính từ 1 – 3 mm. Lá có thể phát triển hơn sau khi hoa đã nở (hysteranthous) hoặc cùng phát triển với hoa (synanthous). 

Lá bao của nghệ tây được cho là sẽ phát triển sớm hơn hoa nếu cây được tưới nước tương đối sóm khi còn trong giai đoạn phát triển. Thân cây dạng trục, hoặc là cấu trúc mang hoa, tạo ra vài lá bắc con, là các lá đặc biệt nhú ra từ cuống hoa. Phần lá này con được gọi là cuống nhỏ (pedicel). Sau thời gian ngủ yên, cây sẽ mọc và phát triển các lá thật, có thể dài đến 40 cm. Vào mùa thu, các búp màu tím xuất hiện, đặc biệt là vào tháng 10 khi mà hầu hết các loại thực vật có hoa đều đã phân tán hạt giống, cho ra những bông hoa với màu sắc rực rỡ nhất. Hoa nghệ tây có màu tử đinh hương nhạt đến sẫm hay màu tím hoa cà với các vân. Hoa có hương thơm ngọt ngào, tựa như mật ong. Khi ra hoa, chiều cao trung bình của cây thấp hơn 30 cm (12 in). Một vòi nhụy gồm ba đầu nhọn mọc ra từ mỗi hoa, cuối mỗi vòi nhụy là một đầu nhụy có màu đỏ thẫm rực rỡ, dài khoang 25 – 30 mm (0.98 – 1.18 in).

Phân bổ

Hoa nghệ tây được L. miêu tả khoa học đầu tiên năm 1753. Nghệ tây là loài bản địa của Tây Nam Á và đã được trồng lần đầu ở Hy Lạp. Là bản sao di truyền đơn hình thái, loài này đã từ từ lan truyền khắp đại lục Á-Âu và sau đó đã được đưa đến các khu vực của Bắc Phi, Bắc Mỹ, và châu Đại Dương.

Cây nghệ tây xuất xứ ở Ấn Độ vùng Balkans và miền Đông Địa Trung Hải. Ngày nay nó được trồng ở Ấn Độ, Tây Ban Nha, Pháp, Ý và vùng Trung Đông. Cây được thu hoạch vào đầu thu và phơi khô.

Chăm sóc

Cách trồng hoa Crocus:

– Chọn nhiều loại củ Crocus, chú ý tìm loại nào thích hợp với đất và khí hậu.
– Mua loại giống tốt, không bị thâm, méo mó hay mềm nhũn.
– Trồng vào mùa thu khi khí hậu mát mẻ, mưa nhiều.
– Chọn nơi đất thoáng và tơi xốp. Đào hố sâu khoảng 2-3″, lót phân xuống dưới, trộn nhẹ phân với đất.
– Vườn hoa sẽ đẹp hơn khi trồng theo cụm hơn là theo hàng. Có thể tiết kiệm thời gian bằng cách đào một hố lớn và rộng hơn là đào từng hố riêng lẻ.
– Đặt củ hoa xuống đất, giữ phần mầm ở trên, phần rễ ở dưới. Lấp đất lại.
– Rào xung quanh khoảng đất chổ củ vừa trồng hoặc dùng lưới trùm lại nhắm tránh bọn sóc hoặc côn trùng tới quấy rầy cây của bạn.
– Tưới nước đẫm 3 lần/tuần.

Dễ dàng phát triển ở mức trung bình, độ ẩm trung bình, đất thoát nước tốt trong ánh nắng mặt trời đầy đủ. Tránh đất sét nặng hoặc điều kiện đất ẩm. Nếu củ hoa được trồng ở trên mặt đất, lá nên để nguyên cho đến khi vàng lá và mục nát (khoảng 6 tuần sau khi nở).

Phân chia củ hoa mỗi 4-5 năm. Tưới nước nên được giảm khi hoa trong mùa ngủ (vào cuối mùa xuân), với đất khô khan thường được coi là tốt nhất khi hoa ngủ.

Bệnh

Không có côn trùng nghiêm trọng hoặc vấn đề dịch bệnh. Sóc, chuột và các loài gặm nhấm khác có thể có vấn đề. Sóc dường như đặc biệt thông thạo ở vị trí, đào và ăn thân củ mới trồng.

Tác dụng y học

Nghệ tây được trồng lần đầu ở Hy Lạp rồi lan dần sang các khu vực châu Á và châu Âu và sau đó đã được đưa đến các khu vực của Bắc Phi, Bắc Mỹ, và châu Đại Dương.

Nghệ tây rất khác với củ nghệ ta và được coi là loại gia vị quý hiếm và đắt giá bậc nhất.

Nhụy hoa nghệ tây vừa được dùng như một loại thảo dược và vừa có công dụng như một loại gia vị.
Sở dĩ loại cây này được coi là quý hiếm là do hoa nghệ tây chỉ nở trong một thời gian rất ngắn, cuối tháng 10 và đầu tháng 11. Đồng thời, việc thu hoạch loại hoa này cũng rất kì công.

Người ta phải hái nó khi có ánh nắng mặt trời, tất nhiên, phải hái bằng tay, thật nhẹ rồi ngắt nhụy hoa có hình dạng giống như sợi dây nhưng lại phải hạn chế ánh nắng chiếu vào để không mất đi hương thơm.

Sau đó, nhụy hoa sẽ được đem đi phơi nhưng chỉ phơi để nhụy có một độ khô nhất định nào đó, nếu không vị đắng đặc trưng của saffron sẽ không còn

Sau khi khô, nhụy hoa co lại còn khoảng 1/3 so với hoa tươi. Để có 1 kg saffron người ta cần đến 200.000 bông hoa và giá cho một kg vào khoảng 7000 – 25000 euro.

Nhụy hoa nghệ tây được dùng làm thuốc nhuộm, tạo hương và tạo màu cho thức ăn
Theo Wikipedia, từ xa xưa, Saffron (nhụy hoa nghệ tây) được người Ai Cập và Rome dùng làm thuốc nhuộm, tạo hương và tạo màu cho thức ăn.

Đến thế kỷ thứ 7, Saffron có mặt ở Trung Quốc rồi sau đó lan sang các nước Châu Âu giai đoạn Trung Đại.

Iran hiện là nước sản xuất nhiều Saffron nhất thế giới, tiếp đến là các nước như Tây Ban Nha, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Ma Rốc.

Saffron được nhiều bà nội trợ dùng trong các món cơm và thịt của người Tây Ban Nha và Châu Á, làm cho món ăn có hương vị rất đặc biệt và màu vàng óng đẹp mắt khi cho một lượng nhỏ vừa đủ.

Theo một kết quả nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Hepatology, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng gia vị nghệ tây có tác dụng ngăn chặn các tác động của một loạt các hợp chất hóa học có khả năng gây ra căn bệnh ung thư và khôi phục các chất chống oxy hóa (như superoxide dismutase) có tác dụng ức chế các tế bào ung thư.

Trước đó, cũng đã có nhiều nghiên cứu cho thấy lợi ích chống lại trầm cảm, viêm nhiễm, mất trí nhớ và vai trò như một chất chống oxy hóa của đầu nhụy hoa nghệ tây.

Các nghiên cứu trên cơ thể động vật và con người, đã khẳng định rằng nghệ tây có thể ức chế tế bào ung thư ở mức độ nhất định.

Tuy nhiên, cơ chế chính xác về hiệu quả chống ung thư của nghệ tây vẫn chưa được tìm hiểu một cách cặn kẽ, theo Amr Amin, một nhà sinh vật học phân tử, tại Đại học Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất, ở Al-Ain.

Giá trị kinh tế

Hầu như tất cả nghệ tây đều được trồng trong một vành đai bao quanh bởi Địa Trung Hải ở phía tây, và các khu vực gồ ghề bao gồm Iran và Kashmir ở phía đông. Những lục địa khác, ngoại trừ Nam Cực, chỉ sản xuất số lượng nhỏ. Khoảng 300 tấn sợi khô và bột được thu hái hàng năm, và khoảng 50 tấn trong số đó là saffron hạng nhất. Iran nắm giữ khoảng 90 – 93 % sản lượng toàn cầu và xuất khẩu khá nhiều. Vài vùng có khí hậu khô hơn về phía đông và đông nam của Iran, bao gồm Fars, Kerman, và những nơi thuộc vùng Khorasan, chiếm phần lớn sản lượng toàn cầu. Vào năm 2005, Hy Lạp, là nước xếp hạng thứ hai trong việc sản xuất saffron, cung cấp 5.7 tấn. Trong khi Maroc và Kashmir, xếp hạng thứ ba, với 2.3 tấn mỗi nước.

Trong những năm gần đây, việc trồng và thu hoạch saffron ở Afghanistan đã tăng lên, còn ở Kashmir thì giảm xuống do tình hình bất ổn. Còn ở Azerbaijan, Maroc và Ý, việc sản xuất cũng giảm hẳn. Chi phí lao động quá cao cùng với nguồn nhập khẩu phong phú từ Iran đồng nghĩa với việc chỉ có một vài vùng địa phương ở Áo, Anh, Đức, và Thụy Sĩ tiếp tục việc thu hoạch tẻ nhạt này. Trong số này có làng Mund ở Thụy Sĩ, với sản lượng hàng năm chỉ khoảng vài kg. Tasmania, Trung Quốc, Ai Cập, Pháp, Israel, Mexico, New Zealand, Thổ Nhĩ Kỳ (chủ yếu là xung quanh thị trấn Safranbolu), California, và Trung Phi cũng chỉ trồng và thu hoạch rất ít.

Để thu được 1 pound (450g) saffron khô thì cần hái khoảng 50000 đến 75000 bông hoa; và để được 1 kg saffron thì cần khoảng 110000 – 170000 bông hoa. Cần đến 40 giờ làm việc để hái 150000 bông hoa. Đầu nhụy khô rất nhanh sau khi được tách ra và thường được trữ trong thùng kín khí.[75]Giá saffron bán sỉ và lẻ thường dao động từ 500 USD đến 5000 USD mỗi pound, hoặc 1100 USD đến 11000 USD mỗi kg, tương đương 2500 £ / 3500 € mỗi pound hoặc 5500 £ / 7500 € mỗi kg. Giá bán ở Canada gần đây đã tăng lên đến 18000 CAD mỗi kg. Ở các nước phương Tây, giá bán lẻ trung bình vào năm 1974 là 1000 $ / 500 £ / 700 € cho mỗi pound, hoặc Mỹ 2200 USD / 1100 £ / 1550 € cho mỗi kg. Vào tháng 2 năm 2013, một lọ nhỏ có chứa khoảng 0.06 ounce có thể được mua với giá 16.26 $ hoặc tương đương 4336 $ mỗi pound, hoặc với giá thấp hơn là 2000 $ mỗi pound nếu mua theo số lượng lớn. Một pound saffron có khoảng từ 70000 đến 200000 sợi. Màu đỏ thẫm rực rỡ, độ ẩm thấp, có độ đàn hồi và không có các sợi bị gãy là những đặc điểm của saffron tươi. Saffron là loại gia vị đắt nhất trên thế giới.

Hương thơm của saffron thường được mô tả bởi những người sành ăn là gợi nên mùi mật ong thoang thoảng với đặc trưng là mùi kim loại cùng với mùi cỏ hay cỏ khô, và vị của nó cũng như cỏ khô, hơi ngọt. Saffron cũng tạo cho thực phẩm một màu vàng cam rực rỡ. Saffron được sử dụng rộng rãi trong các nền ẩm thực như Ấn Độ, Ba Tư, châu Âu, Ả Rập, và Thổ Nhĩ Kỳ. Các loại bánh kẹo và rượu cũng thường có saffron. Các chất thay thế saffron thông thường là cây rum (Carthamus tinctorius, thường được bán với tên gọi là "saffron Bồ Đào Nha" hay "açafrão"), hạt điều màu (annatto), và củ nghệ (Curcuma longa). Saffron cũng được dùng làm thuốc nhuộm vải, đặc biệt là ở Trung Quốc và Ấn Độ, hay trong làm nước hoa. Nó cũng được sử dụng cho những mục đích tôn giáo ở Ấn Độ, và được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực. Từ món cơm Milan ở Ý đến món bouillabaisse ở Pháp, và món Biryani gồm nhiều loại thịt đi kèm ở Nam Á.

Saffron đã được sử dụng trong y học cổ truyền một thời gian dài; một số nghiên cứu hiện đại đã gợi ý rằng gia vị có khả năng chống bệnh ung thư (ức chế ung thư), chống đột biến (ngăn ngừa), tăng miễn dịch, và có các tính chất chống oxy hóa. Đầu nhụy của cây nghệ tây, kể cả các cánh hoa cũng có thể hữu ích trong điều trị trầm cảm. Những nghiên cứu đầu tiên cho thấy saffron có thể bảo vệ mắt khỏi ánh sáng trực tiếp và sự căng thẳng võng mạc do thoái hóa điểm vàng và viêm võng mạc sắc tố.[82] (Hầu hết các nghiên cứu về saffron đều có liên quan đến phần đầu nhụy, nhưng điều này lại không được nói đến trong các tài liệu nghiên cứu) Những nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng saffron có những đặc tính chữa bệnh tiềm năng.

Ý nghĩa

Nghệ tây tên khoa học là Crocus, là một loài thực vật thuộc họ Diên vĩ, có nguồn gốc tên từ một từ Hy Lạp có nghĩa là “sợi chỉ”.Loài này đã từ từ lan truyền khắp đại lục Á-Âu và sau đó đã được đưa đến các khu vực của Bắc Phi, Bắc Mỹ, và châu Đại Dương.

Cây hoa nghệ tây (Autumn Crocus) thường xuất hiện vào mùa đông khi trời chớm lạnh, vạn vật chuẩn bị giất ngủ đông thì những bụi hoa này xuất hiện. Chúng thấp bé, nhưng sức sống vô cùng mạnh mẽ, mặc kệ giá lạnh băng tuyết chúng vẫn ngóc đầu hồi sinh, trang điểm cho mùa đông ảm đạm bằng những thảm hoa đủ màu rạng rở.

Ý nghĩa hoa nghệ tây

Truyền thuyết Hy Lạp kể rằng: Krokus ngoại tình với một nữ thần xinh đẹp tên là Smilax . Krokus trở nên chán nản của nữ thần của mình và bắt đầu đi lang thang . Để trừng phạt anh ta cho sự không chung thủy của mình, các vị thần biến Krokus vào một loài hoa bất động. Một phiên bản khác của câu chuyện này kể về Krokus trở nên say mê với Smilax , các vị thần ban cho họ sự bất tử bằng cách chuyển chúng thành hai hoa phát triển trong cùng lĩnh vực. Tuy nhiên, huyền thoại khác nói rằng vào một ngày mùa xuân thần Zeus làm tình với Hera trên bờ sông . Người ta nói rằng sức nóng của niềm đam mê của họ gây ra rung chuyển trái đất , hàng ngàn mảnh vỡ với đủ màu sắc rơi xuống tạo lên một loài hoa. Loài hoa này được gọi là Crocus , tên tiếng việt có nghĩa là hoa Nghệ tây

Hoa nghệ tây(crocus): tỏ sự vui mừng.

Hoa nghệ tây có xu hướng đại diện cho sự vui mừng và vui vẻ , cũng như một cảm giác trẻ trung , niềm vui vô tội. Một món quà là những bông hoa nghệ tây thường được đại diện cho cùng một niềm vui – để diễn tả một niềm đam mê cho cuộc sống. Nó cũng được cho là cảm ơn bạn quà tặng, như thể muốn nói , ” Tôi rất vui mừng rằng bạn đang ở trong cuộc sống của tôi ."

Phân loại

Có hơn 80 loài cây nghệ, nhưng hầu hết các Crocus có sẵn là hỗn hợp của các loài khác nhau và giống. Chỉ có một bí quyết, bạn cần phải chắc chắn khi lựa chọn về Crocus là: Crocus mùa xuân hoặc mùa thu cây ra hoa.

Crocus, chi của khoảng 80 loài cây nghệ thấp, loài thực vật của gia đình thuộc họ Diên vĩ (Iris), bộ Asparagales (Măng tây), có nguồn gốc từ dãy núi Alps, phía nam châu Âu, khu vực Địa Trung Hải và được trồng rộng rãi cho nở hoa dạng hình chén vào đầu mùa xuân hoặc mùa thu. Nhụy hoa của Nghệ tây , được sử dụng để nhuộm màu, chế biến gia vị, và ứng dụng trong y học, bằng cách là sấy khô các nhụy hoa màu đỏ cam của hoa màu cà hoặc màu trắng, nở vào mùa thu là hoa Crocus Sativus của Tây Á.

Các loài trên núi cao, C. vernus, là tổ tiên của vườn cây nghệ.

Hà Lan crocus vàng (C. flavus), từ sườn núi đá ở đông nam châu Âu, là một loài mùa xuân phổ biến, như là C. biflorus, màu tím và màu vàng nơi thân ống của hoa, đôi khi có sọc, từ Địa Trung Hải.

Bình luận