Nghệ

Nghệ hay nghệ nhà, nghệ trồng, khương hoàng (danh pháp hai phần: Curcuma longa) là cây thân thảo lâu năm thuộc họ Gừng, (Zingiberaceae), có củ (thân rễ) dưới mặt đất. Nó có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Tamil Nadu, phía đông nam Ấn Độ, và cần nhiệt độ từ 20 độ C đến 30 độ C (68 độ F và 86 độ F) và một lượng mưa hàng năm đáng kể để phát triển mạnh. Cây được thu hoạch hàng năm để lấy phần củ, và được nhân giống từ một phần trong số củ đó vào mùa sau.

Khi không được sử dụng ngay, củ được luộc trong khoảng từ 30 đến 45 phút và sau đó đem sấy khô trong lò nóng. Sau đó chúng được nghiền ra thành một loại bột có màu vàng cam sậm mà thường được sử dụng làm gia vị trong ẩm thực Tamil và kể cả các loại cà ri, hoặc để nhuộm màu, tạo màu cho các loại gia vị mù tạc. Thành phần hoạt động của nó là chất curcumin với hương vị hơi cay nóng, hơi đắng, có mùi mù tạc, và ‘mang hương vị của đất’ một cách khác biệt. Curcumin là tâm điểm thu hút vì tính năng chữa bệnh tiềm tàng với một số các chứng bệnh, bao gồm ung thư, Alzheimer, tiểu đường, dị ứng, viêm khớp, và các loại bệnh mãn tính khác. Ấn Độ là nước sản xuất nghệ chính, với những tên gọi theo vùng tùy vào ngôn ngữ và quốc gia.

Vì nghệ là một hợp chất thực vật tự nhiên, nên nó không mang tính độc quyền để được cấp bằng sáng chế riêng.

Phân bổ

Chi Nghệ có nguồn gốc vùng nhiệt đới Châu Á gió mùa, thích nghi ở nhiệt độ 20-30oC, là loài cây hằng niên và rể củ có thể tái sinh chồi mới trong nhiều năm.

Ở Việt Nam có khoảng 18 loài nghệ khác nhau.

Nhiều loài nghệ trong số này đã dược nghiên cứu ở Việt Nam. Một số loài tuy có tên trong sách phân loại nhưng hiện nay không tìm thấy, ngược lại một số loài nghệ khác được tìm thấy nhưng chưa được định danh.

Sau đây là danh sách các loài nghệ quan trọng ở Việt Nam đã được xác định và vùng phân bố của chúng:

  1. 1-Curcuma aeruginosa: Nghệ xanh (một số nơi ở miền Bắc hay gọi nhầm là nghệ đen). Có thân rễ có màu xanh đen đồng. Giữa gân lá có sọc đỏ. Nhiều hình ảnh trên mạng cũng như nhiều người lầm tưởng loài nghệ này với một loài nghệ khác có thân rễ màu xanh tím. Loài Curcuma aeruginosa được sử dụng để trị đau bụng đi ngoài rất tốt.
  2. Curcuma alismatifolia: Uất kim hương Thái Lan.
  3. Curcuma angustifolia Roxb.: Nghệ lá hẹp, tại Việt Nam có ở Đắc Lắc.
  4. Tại Ấn Độ, củ rễ của loài nghệ này được dùng như một nguồn tinh bột.
  5. Curcuma aromatica: Nghệ rừng hay nghệ trắng, có ở Quảng Bình, được dùng để trị ho.
  6. Curcuma elata Roxb.: Mì tinh rừng, có ở các tỉnh Tây Nguyên.
  7. Curcuma gracillima: nghệ mảnh.
  8. Curcuma kwangsiensis: Nghệ Quảng Tây, được trồng phổ biến ở Miền Bắc.
  9. Curcuma longa Linn. hay C.domestica Valeton: Nghệ vàng, uất kim, khương hoàng. Một số tài liệu cho đây là hai loài nghệ khác nhau. Ở Việt nam có nhiều ở Quảng Bình, Quảng Nam, Đắc Nông...
  10. Curcuma petiolata hay C.cordata-nghệ sen.
  11. 10.Curcuma pierreana Gagnepain: Bình tinh chét có ở Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam (Việt Nam). Curcuma pierreana có thân rễ rất nhỏ, cụm hoa màu cam, cách môi vàng mọc giữa thân có lá. Tinh dầu thân rễ loài nghệ này có chứa borneol. Tại miền Trung, trước đây loài nghệ này được dùng như một nguồn tinh bột với tên bột bình tinh (khác với bột một loài củ khác còn được gọi là hoàng tinh).
  12. Curcuma xanthorrhiza Có ở các tỉnh miền đông Nam Bộ, có rễ con màu vàng.
  13. Curcuma zedoaria - Nga truật, còn gọi là nghệ đen, ngải tím.

Trước đây, người ta dựa vào đặc điểm hình thái thực vật để phân biệt các loài nghệ. Ngày nay, ngoài đặc điểm thực vật, có thể dựa vào thành phần hóa học để giúp phân biệt các loài nghệ. Theo tài liệu của Phạm Hoàng Hộ thì tại Việt Nam còn có một loài nghệ được gọi là Curcuma rubens Roxb. Loài nghệ này có nạc củ màu ngà, lá có sọc tía, thân lá có màu tía. Cụm hoa có các chót lá hoa màu tím. Tại Tây Nguyên có một loài nghệ được mô tả như loài nghệ trên. Tuy nhiên màu nạc củ của loài nghệ này thay đổi có thể có màu tím như khoai tía hoặc có màu ngà, tùy theo sự phát triển.

Loài Nghệ trồng (Curcuma longa Linn.) được trồng nhiều ở Nam Á, Đông Nam Á, Trung Quốc và Trung Đông đã được sử dụng từ lâu, đặc biệt tại Ấn Độ với món cơm cari.

Loài Nghệ nhà được trồng phổ biến trên cả nước Việt Nam đó chính là loài Curcuma longa Linn. hay C.domestica Valeton: có các tên gọi khác là Nghệ vàng, uất kim, khương hoàng.

Chăm sóc

I- Thời vụ trồng:

Thường trồng vào mùa xuân, khi tiết trời có mưa phùn, đất đã đủ ẩm:  Tháng 11 – 12 (miền Nam) tháng 2 – 4 (Miền Bắc)
Nghệ là cây trồng chủ yếu để lấy củ (thân ngầm), vì vậy nghệ cần đất tơi xốp hơn là đất nặng. Cần nơi thoát nước.
Người ta thường thấy nghệ phần lớn được trồng quanh nhà để lấy củ và lá dùng hàng ngày. Nhưng nếu trồng trên diện tích rộng để bán thì cấn những lô đất cao, thoát nước.

Những nơi có rừng có thể làm đất để trồng nghệ dưới tán rừng:

– Trồng dưới tán rừng thưa có độ che 0,6 ở những nơi có điều kiện khí hậu và đất đai phù hợp với điều kiện trồng nghệ, tiến hành làm đất dăm ba ngày trước khi trồng.

– Chọn những khoảng đất trồng dưới tán rừng, chỗ không vướng rễ cây lớn, cuốc hố đường kính rộng 80-100cm, sâu 20-25 cm, băm nhỏ đất trong hố.

– Ở các khu rừng trồng chưa khép tán có địa hình phù hợp với sinh trưởng và phát triển của cây nghệ cũng tiến hành làm đất trồng nghệ trước khi trồng. Đất được đào thành rạch rộng 50-60 cm, sâu 20-25 cm ở chính giữa và song song với hàng cây trồng rừng. Đất trong rạch được băm nhỏ.

II- Kỹ thuật và mật độ trồng:

1- Chọn giống làm đất:

– Trồng nghệ cũng giống trồng gừng. Ta chọn các củ nghệ tốt không bị bệnh, không thối. Nếu củ có nhiều nhánh, thì tách các nhánh ra. Trồng nghệ sau những ngày có mưa, đất hoàn toàn ẩm. Moi 3 hốc ở hố trồng, hốc cách nhau khoảng 25 cm tạo thành đỉnh của tam giác đều. Mỗi hốc đặt một khúc nghệ giống. Không phủ đất quá dày, mầm chồi không mọc lên được sẽ bị thối.

– Khi trồng nghệ trên loại đất không được tốt lắm, thì có thể bón lót trước khi trồng. Mỗi hốc bón lót 1 kg phân hữu cơ sinh học Better HG01 trộn với 0,01 kg Better NPK 16-12-8-11+TE trộn đều. Mỗi ha trồng khoảng 25.00 khúc giống. Lưu ý: Bằm đất dưới hốc thật nhuyễn, rãi Basudin xuống hốc 20 kg/1ha, đặt củ nghệ xuống đè cho tiếp xúc với đất rồi phũ lên một lớp phân hữu cơ sinh học Better HG01 và Better NPK đã trộn đều với đất lên khoảng 5-7 cm, dùng thùng vòi búp sen tưới đẩm rồi phũ lên một lớp rơm để giữ ẩm.

– Khi mầm nghệ mọc vươn lên khỏ mặt đất và ra được 2-3 lá thì xới xáo quanh gốc và vun đất cho gốc cây nghệ mới mọc. Thường xuyên nhổ bỏ cỏ dại mọc chen lấn nghệ. Hai tháng tiếp theo mỗi tháng vun xới gốc nghệ một lần. Tiến hành rãi luống canh tác lần cuối.

– Khoảng cách và mật độ trồng: có thể áp dụng một trong các khoảng cách trồng như sau: 40 x 30 cm; 50 x 20 cm đối với luống đôi, hoặc 70-20 cm đối với luống đơn.

– Nếu trồng theo khoảng cách 50-20 cm thì lên luống rộng 1 m, trồng hai hàng dọc, hàng cách hàng 50 cm và cây cách cây 20 cm.

– Nếu trồng theo khoảng cách 40-30 cm thì mặt luống rộng 1,2 m, trồng hàng cách hàng 40 cm, cây cách cây 30 cm.

– Nếu trồng theo khoảng cách 70-20 thì luống rộng 1,2 m, trồng hai hàng dọc theo luống, hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 20 cm.

Sau này khi vun gốc, tiến hành lấy đất ở giữa luống đấp vào hai hàng nghệ hai bên, tạo thành luống đơn như giồng khoai lang.

2- Bón phân chăm sóc:

– Tưới nước: tưới 2 lần/ngày bằng thùng vòi búp sen đều đặn.

– Bón phân: Tổng lượng phân cần dùng cho 1ha: 250 kg Better NPK 16-12-8-11+TE (bón lót toàn bộ).

– Khi nghệ lên cây khoảng 30% thì pha một 0,1kg Better NPK 16-12-8-11+TE vào thùng 20 lít tưới. Tưới 2-3 lần mỗi lần cách nhau 4-5 ngày.

– Khi thấy bụi nghệ có từ 2-3 cây con tiến hành bón thúc 7 ngày một lần với liều lượng như trên. Mỗi tháng kết hợp làm cỏ và xới xung quanh gốc.

a- Vun gốc:

Tiến hành vun gốc khi cây có 3-4 cây con/bụi, bỏ phân hữu cơ sinh học Better HG01  thẳng vào gốc cao khoảng 5 cm. Sau đó đấp lên một lớp đất mỏng khoảng 1-2 cm. Biện pháp tốt nhất là trộn 50% đất và 50% phân hữu cơ để vun gốc. Khi thấy củ non lồi lên mặt đất thì vun gốc tiếp tục.

b- Làm cỏ:

Cần làm sạch cỏ dại, kết hợp xới xáo làm cho đất thoáng xốp tránh được hiện tượng lèn đất

c- Trồng xen:

Việc trồng xen dưới tán rừng và trên ruộng vườn vào mùa khô có ý nghĩa rất lớn. Ngoài việc làm tăng thu nhập nó còn giúp giữ ẩm, che mát và giúp chúng ta giảm tưới nước cho nghệ. Cây trồng xen được chọn là điều đem lại hiệu quả kinh tế rất cao

III- Thu hoạch, bảo quản:

Thường nghệ trồng vào vụ Đông – Xuân, và sẽ thu hoạch rải rác từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, tuỳ nhu cầu sử dụng đất mà quyết định. Khi cây nghệ ngừng phát triển lá non, lá già đã bắt đầu khô ở mép, ngả vàng nhạt, đào gốc nghệ thấy vỏ củ có màu vàng sẫm (da bóng, đầu củ cũng có màu vàng sẫm) là đến lúc thu hoạch.

Thường dùng cuốc (nếu thu hoạch ít). Nếu nhiều, dùng cày cày chếch bên hàng nghệ cho bật gốc lên, nhổ lấy cả cây, rũ đất mang cả cây về, cắt lấy gốc, bỏ thân lá đi. Để nghệ vào chỗ khô ráo, mát mẻ có thể bảo quản được lâu. Chọn củ nghệ kém tiêu chuẩn bán trước. Chọn củ nghệ giá đều để làm giống.

Món ăn

Bún xào nghệ


Canh cá nấu nghệ


Cá kho nghệ


Gà nấu kem nghệ


Bò xào rau củ và nghệ

Bệnh

Nghệ ít bị sâu bệnh phá hại vì cây này có khả năng chống chịu cao, đáng chú ý là bệnh thối củ khi bị úng nước, cần khơi rãnh thoát nước trong mùa mưa, đồng thời việc chọn giống, chọn và làm đất cũng được chú ý đúng mức.

Tác dụng y học

Đối với tiêu hóa

Curcumin giúp cải thiện tiêu hóa nhờ kích thích túi mật sản sinh mật.

Một nghiên cứu mù đôi có đối chứng cho thấy nghệ làm giảm chướng bụng đầy hơi ở những người mắc chứng khó tiêu.

Ủy ban E của Đức, một cơ quan chuyên xác định những thảo dược nào là an toàn để kê đơn tại Đức, đã cho phép sử dụng nghệ để điều trị các vấn đề về tiêu hóa.

Chống viêm

Curcumin làm giảm 2 enzym trong cơ thể gây viêm, cho thấy ăn nghệ sẽ giúp điều trị nhiều tình trạng viêm. Curcumin tỏ ra có triển vọng là một thuốc chống viêm tự nhiên và hiện đang trong các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 và 3.

Trong một nghiên cứu lâm sàng về tác dụng curcumin đối với viêm khớp, 50 bệnh nhân được uống curcumin mỗi ngày trong 3 tháng. Kết quả cho thấy bệnh nhân tăng thành tích và khoảng cách đi bộ, đồng thời giảm mức độ viêm.

Curcumin cũng đã được chứng minh là có hiệu quả đối với các bệnh viêm ở ruột, chẳng hạn như bệnh Crohn và viêm loét đại tràng. Trong nhiều nghiên cứu, những người bị viêm ở ruột được bổ sung curcumin đã giảm triệu chứng.

Sức khỏe tim mạch

Nghệ đã được chứng minh là có tác dụng ngăn tiểu cầu kết tập, giúp giảm nguy cơ hình thành huyết khối. Nghiên cứu ban đầu cho thấy nghệ có thể giúp ngăn ngừa sự tích tụ mảng bám trong động mạch.

Trong nghiên cứu trên động vật, tinh chất nghệ làm giảm cholesterol LDL (xấu) và ngăn ngừa sự tích lũy chất này.

Tuy nhiên, theo một nghiên cứu trên người trong đó những người được uống 4g curcumin mỗi ngày, không thấy có sự cải thiện về mức cholesterol.

Các đặc tính chống viêm của nghệ có lợi cho sức khỏe tim mạch . Một số nghiên cứu đã thấy rằng đặc tính chống oxy hóa và chống viêm của nghệ có những tác dụng sau trên động vật thì nghiệm: Giảm cân; Giảm tổng hợp triglyceride; Tăng tốc độ chuyển hóa cơ bản; Tăng ô xi hóa a xít béo; Cải thiện sự nhạy cảm insulin

Tất cả những tác dụng này sẽ làm giảm nguy cơ bệnh tim. Tuy nhiên, kết quả của những nghiên cứu cần được xác minh trên người trước khi nghệ được sử dụngnhư một hình thức điều trị.

Ung thư

Có bằng chứng sơ bộ cho thấy nghệ có thể hữu ích trong phòng chống ung thư nhờ các đặc tính chống oxy hóa và chống viêm. Các nghiên cứu dịch tễ học đã xác định viêm là một yếu tố nguy cơ chính gây ung thư. Cần có thêm những nghiên cứu trong lĩnh vực này.

Curcumin cũng được thấy là có tác dụng giảm nhẹ hoặc giảm một số triệu chứng ung thư thứ phát như giảm cảm giác về mùi, ngứa, kích thước tổn thương và đau.

Sức khỏe não bộ

Tác dụng chống oxy hóa, chống viêm và tác dụng đối với hệ tuần hoàn nghệ đều hữu ích trong phòng ngừa và điều trị các bệnh thoái hóa thần kinh, bao gồm những bệnh như Alzheimer, bệnh Parkinson và xơ cứng rải rác.

Trong một nghiên cứu quần thể lớn gồm hơn 1.000 bệnh nhân cao tuổi bị sa sút trí tuệ, mất trí nhớ, những người ăn cà ri nhiều bột nghệ thường xuyên, rất thường xuyên hoặc thỉnh thoảng có điểm số đánh giá chức năng nhận thức tốt hơn đáng kểso với những người rất ít khi ăn cà ri.

Tiểu đường týp 2

Stress oxy hóa và phản ứng viêm là những yếu tố chính trong sự xuất hiện và phát triển của bệnh tiểu đường týp 2. Curcumin có vẻ tác động đến bệnh tiểu đường nhờ kích thích tuyến tụy sản xuất và tiết insulin.

Một số nghiên cứu đã thấy rằng curcumin có thể giúp điều hòa chuyển hóa glucose và lipid trong bệnh tiểu đường týp 2 . Trong một nghiên cứu, 240 đối tượng tiền tiểu đường được bổ sung 250mg curcumin hoặc giả dược hai lần mỗi ngày trong 9 tháng, kết quả là những người được bổ sung curcumin ít tiến triển thành tiểu đường toàn phát hơn.

Giá trị kinh tế

Nghệ cho năng suất cao, lại có thể trồng xen với các cây màu khác như lạc, kỹ thuật trồng và chăm sóc không khó, cho giá trị kinh tế cao, thị trường tiêu thụ ổn định đã tạo được niềm tin, sự phấn khởi cho người nông dân.

Trồng nghệ góp phần tạo bước chuyển đổi về cơ cấu cây trồng, giúp khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất nông nghiệp, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động vùng nông thôn miền núi, tận dụng đất trống đồi trọc, xóa đói giảm nghèo, nâng cao sức khỏe cộng đồng, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam.

Nghệ còn là nguồn cung cấp dược liệu quý hiếm cho y học, ngành mỹ phẩm, công nghệ thực phẩm và cung cấp gia vị bổ ích trong bữa ăn gia đình người Việt.

Bình luận