Hành lá

Hành lá hay hành xanh, hành non là tên gọi chung của các loài thuộc chi Hành. Tất cả hành lá đều có lá rỗng màu xanh (giống hành tây), nhưng lại thiếu một thân hành (củ hành) phát triển hoàn chỉnh. Chúng được trồng bởi hương vị thơm dịu hơn so với hầu hết hành tây và được ăn sống hoặc nấu chín như một loại rau.

"Hành lá" cũng được dùng chỉ các cây non của hành tây (A. cepa var. Cepa), hẹ tây (A. cepa var. Aggregatum, tiền thân A. ascalonicum), được thu hoạch trước khi thân hành phát triển hoàn chỉnh, hoặc khi thân hành còn nhỏ. Hầu hết các giống trồng ở phương Tây chủ yếu là hành salad hoặc hành lá thuộc loài A. cepa var. cepa. Vài loài khác cũng thuộc hành lá gồm A. ×proliferum và A. ×wakegi.

  • Cây thân thảo, sống lâu năm, phát triển bằng căn hành.
  • Thân: Thân hành nhỏ, cao 30-50 cm, tép trắng hay nâu đỏ, không phù lắm, to 7 - 15 mm.
  • Rễ: Rể hình bóng đèn, ít phù, kéo dài, hơi bất đối xứng, phía dưới có chùm rể màu trắng, mọc khỏe trên đất tơi, xốp.
  • Lá: Lá xanh mốc, bọng 3 cạnh ở dưới, hình trụ ở trên có thể lên đến 50 - 80 cm và 2,5 cm đường kính, bẹ dài bằng ¼ phiến.
  • Hoa: Trục mang cụm hoa cao bằng lá. Cụm hoa hình đầu tròn, gồm nhiều hoa có cuống ngắn; bao hoa có các mảnh hình trái xoan nhọn màu trắng có sọc xanh. Hoa lưỡng tính, hình chuông, cánh hoa 6 xếp thành 2 luân sinh, phiến hoa cao 5 mm, rời, trắng có sọc xanh, có mùi, 6 tiểu nhụy, noản sào xanh dợt, bầu noản thượng, 3 buồng, vòi nhụy mảnh. Cây ra hoa vào mùa xuân, mùa hè.
  • Quả: Quả nang, viên nang hình cầu khoảng 5 mm đường kính, khai theo chiều dọc, chứa ít hạt.
  • Hạt: Hạt 3 -4 mm x 2 - 2,5 mm màu đen.

Phân bổ

Phần lớn các loài Allium có nguồn gốc từ các Bắc bán cầu , chủ yếu là ở châu Á. Một số loài có nguồn gốc từ Châu Phi và Trung và Nam Mỹ. Ví dụ như các loài xuất hiện ở Chile (như A. juncifolium), ở Brazil (như A. sellovianum) hoặc cận nhiệt đới châu Phi (như A. spathaceum ). 

Loài hành hương (Allium fistulosum) có nguồn gốc ở châu Á, có thể ở Siberia  (hoặc Trung Quốc), trong thời Cận Đại, những nhà thực vật học Nga đã tìm thấy loài hoang dả của hành trong dải núi Altai. Hành hương đến từ Nga qua Âu Châu vào thời Trung Cổ. Từ khi những dân tộc Gaulois, những cây hành lá đã được dùng căn bản cho thực phẩm của người thường dân.

Loài này du nhập vào Châu Âu nên có tên tiếng Anh là "Welsh onion" (nguồn gốc của "Welsh" xuất phát từ tiếng Đức cổ "welsche" hay tiếng Anh cổ "welisc" có nghĩa là “nước ngoài”. Từ này dẫn đến lầm lẩn trong tiếng Anh hiện đại cho rằng "Welsh onion" là cây hành của xứ Wales ở Anh, thực ra đó là loài cây du nhập từ nước ngoài vào Anh.

Hiện nay cây hành hương là loài rau gia vị quan trọng trong các món ăn châu Á, đặc biệt là ở Đông và Đông Nam Á. Nó đặc biệt quan trọng ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, vì thế tên tiếng Anh khác cho loài cây này là “Japanese bunching onion” (hành bụi Nhật Bản) hay “green onion” (hành lá), “bunching onion” (hành bụi) và “scallion” (hành tươi) như tên tiếng Anh ở một số nước nói tiếng Anh khác.

Ở Ấn Độ, Hoa Kỳ, Nam Mỹ… gọi loài cây này là “hành lá xanh” (green onion) hay “hành salad” (salad onion). Tuy nhiên từ “green onion” hay “salad onion” còn để chỉ nhiều loài hành khác trong Chi hành như Hành tăm (Allium schoenoprasum), Cây hẹ (Allium ramosum), Hành lá Trung Quốc (Allium chinense)…

Ở Việt Nam gọi là hành ta để phân biệt với hành tây là giống hành chuyên lấy củ được nhập từ Châu Âu.

Hành ta được trồng khắp các vùng ở Việt Nam, trong đó một số tỉnh nổi tiếp với trồng hành như Bắc Giang, Hải Phòng, Đà lạt, Nghệ an, Tuyên Quang, Hà Nội, Ninh Bình...gồm có một số giống như:

  • Hành tăm: lá nhỏ, vị thơm ngon.
  • Hành hương (gốc trắng): lá nhỏ, bụi nhỏ, có mùi thơm ngon.
  • Hành Đá: lá, bụi thuộc dạng trung gian.
  • Hành sậy (gốc tím): lá to, hương vị kém ngon.
  • Hành Trâu: lá rất to, bụi lớn, hương vị rất ít ngon.

Chăm sóc

Giống

Hiện nay có 2 giống hành phổ biến: Giống hành gốc tím (hành sậy) và gốc trắng (hành hương). Hành gốc tím nông dân thích trồng hơn vì năng suất cao, ít sâu bệnh và ít đổ gãy lá hơn. Hành hương cọng và gốc nhỏ nhưng rất thơm.

Làm đất

  • Liếp trồng hành có thể rộng 1,2- 1,4 m, cao khoảng 20 - 40 cm, đất phải được làm tơi nhỏ, sạch cỏ dại. Mùa nắng liếp trồng có thể thấp khoảng 20-25 cm là đạt yêu cầu.
  • Mật độ và khoảng cách
  • Lượng giống cần cho 1000 m2 là: 300-400 kg (mùa mưa) và 400-500 kg (mùa nắng)
  • Khoảng cách hàng cách hàng: 20-30 cm. Khoảng cách cây cách cây: 20-25 cm. Mỗi hốc, 2 tép hành.
  • Rãnh giữa 2 liếp rộng: 20-30 cm.
  • Khoảng cách trồng còn tuỳ thuộc vào mùa vụ. Mùa nắng có thể trồng dày hơn mùa mưa.

Trồng cây

Trồng bằng cây gốc, chọn cây già, gốc to, không quá non mềm, lá cứng, có phấn trắng. Hành khi mua giống về đem trồng ngay, một liếp có thể cấy 4-5 hàng tùy theo độ rộng của mặt liếp. Cần phải rãi một lớp rơm mỏng lên mặt liếp trước khi trồng nhằm giữ ấm cho cây sau khi trồng, đặt biệt là mùa mưa. Nếu để giúp cây phát triển nhanh hơn thì dùng chày có đầu nhọn dọng lỗ với độ sâu 2-3cm rồi cấy hành lên.

Hành lá có thể được tận dụng trồng trong chậu , đặt xung quanh nhà.

Phân bón

Lượng phân cần bón cho cây tùy thuộc vào nhu cầu của cây, độ phì nhiêu của đất (tính cho 1.000 m2). Có thể tham khảo công thức phân bón như sau:

Bón lót (trước khi trồng): Tro trấu (đã ủ hoai): 200-300 kg, 10 kg DAP (hoặc 20kg Super lân)

Bón thúc: Có thể pha phân vào nước tưới

  • Đợt 1 (8 ngày sau khi trồng): 5kg DAP
  • Đợt 2 (16 ngày sau khi trồng): 10kg DAP
  • Đợt 3 (23 ngày sau khi trồng): 15kg DAP

Lưu ý: Nên ngưng tưới và phun phân bón trước thu hoạch ít nhất 7- 10 ngày.

Chăm sóc

  • Làm cỏ: Làm cỏ bằng tay để tránh sự cạnh tranh dinh dưỡng của cỏ với hành.
  • Tưới nước: Cây hành rất cần nước trong quá trình sinh trưởng cung cấp đủ nước cho cây 1 - 2 lần/ngày.

Món ăn

Lòng xào hành


Cháo hành


Canh Gà hấp hành


Sò điệp nướng phủ hành


Gà hấp hành

Bệnh

Sâu bệnh

Trồng hành rất sợ bệnh thán thư: Do đó có thể hạn chế bệnh này cần xử lý giống trước khi trồng bằng thuốc Roral, Anvil, Validacin, Ridomyl...

Sâu xanh, dòi đục lá có thể sử dụng Padan, Furadan rãi vào gốc hoặc phun theo liều hướng dẫn.

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp:

- Biện pháp canh tác:

Luân canh với cây trồng khác họ để cắt đứt cầu nối sâu bệnh giữa các vụ. Chọn giống sạch, nếu cần thiết nên nhúng lá hành giống vào dung dịch thuốc trừ bệnh Rovral để xử lý giống.

Mùa nắng trồng dày , mùa mưa trồng thưa 10- 15Cm. Bón phân cân đối giữa đạm, lân, kali. Nên bón thêm phân chuồng hoai vào lần bón lót hoặc phân hữu cơ vi sinh. Hạn chế việc tưới Urê định kỳ bằng cách phun phân bón lá, phân bón sinh học.

Vệ sinh đồng ruộng: Làm sạch cỏ, tưới đầy đủ nước, tỉa bỏ lá già ,lá bị sâu bệnh.

- Biện pháp vật lý- cơ học:

Làm đất phơi ải, xử lý vôi 100-200Kg/1công, tiêu diệt mầm móng sâu bệnh.

Lên liếp cao, thoát nước tốt, phủ rơm sạch để tránh mầm bệnh lây lan.

- Biện pháp sinh học:

Hạn sử dụng thuốc trừ sâu để bảo tồn thiên địch, nhất là ong ký sinh, cóc, ếch, nhái . . .

Sử dụng các chế phẩm sinh học như AIM trừ dòi đục lá hành và thuốc điều hòa sinh trưởng như: Mimic, Atabron trừ sâu xanh da láng.

Tác dụng y học

1. Cầm máu vết thương

Vết thương rỉ máu không cầm. Lấy hành lá tươi hoặc khô nướng chín rồi bóp cho ra nước, lấy nước đó nhỏ vào vết thương sẽ cầm máu

2. Mụn trĩ rò đau nhức

Trước hết lấy hạt gấc đun lấy nước để xông mụn trĩ. Khi nước đã bớt nóng chỉ còn hơi ẩm thì đem nước đó rửa sạch mụn búi trĩ, thấm cho khô. Sau đó lấy hành giã vắt lấy một ít nước, hòa với một ít mật để bôi lên mụn trĩ, chỉ bôi một lần đã đỡ đau.

3. Chống đông máu: Chỉ cần mỗi ngày ăn nửa củ hành thôi là bạn đã có thể tự giảm đáng kể lượng cholesterone và huyết áp cao cho mình và giúp bản thân ngăn ngừa những cơn đau tim do hành giúp ngăn ngừa chứng xơ vữa động mạch, tiểu đường...

4. Chống viêm: Các chất chống viêm trong hành rất có ích trong việc giảm các triệu chứng của tình trạng viêm, đặc biệt là viêm khớp và bệnh gút.

5. Chống nhiễm khuẩn: Hành có tác dụng tiêu diệt các vi khuẩn lây nhiễm, bao gồm cả vi khuẩn E.coli và Salmonella. Ngoài ra, nó còn có hiệu quả chống lại bệnh lao và nhiễm trùng đường tiểu, chẳng hạn như viêm bàng quang.

6. Tốt cho huyết áp: Dù bạn ăn sống hoặc nấu chín, hành tây cũng giúp bạn hạ huy ết áp một cách tự nhiên. Nó cũng làm loãng máu, hòa tan cục máu đông và lọc máu khỏi các chất béo không lành mạnh.

7. Chữa cảm sốt, nhức đầu

Cảm sốt nhức đầu như búa bổ, hãy lấy hai chục cây hành hoa cắt bỏ đoanh lá xanh, giữ lại rễ. Cho một ít gạo và năm lát gừng dày đun lấy một bát cháo ăn nóng. Khi ăn cháo nên pha một chút giấm chua. Ăn xong đắp chăn cho ra mồ hôi.

8. Chữa đau bụng, lạnh giá chân tay

Người lớn bị đau bung chân tay lạnh giá, môi xanh, mạch hiện lờ mờ cần lấy một nắm hành bỏ rễ và lá, lấy củ hơ nóng ấp lên rốn, lấy chai nước nóng chườm lên trên. Thấy hành đã bị mềm nhũn lại thì thay nắm hành khác. Một lúc lâu hơi nóng ngấm vào thì chân tay sẽ ấm, ra dâm dấp mồ hôi sau đó sẽ khỏi. Tiếp đó, lấy miếng gừng khô bằng độ 2 ngón tay cái thái nhỏ, đung nước uống.

9. Phòng chống ung thư ruột kết

Fructo-oligosaccharides trong hành kích thích sự tăng trưởng của vi khuẩn có lợi trong ruột kết và giúp giảm nguy cơ phát triển khối u ở ruột kết.

10. Táo bón và đầy hơi

Ăn nhiều hành tây sẽ giúp giảm táo bón mãn tính và đầy hơi. Nếu bí đại tiện có thể lấy một củ hành kèm theo một lát gừng giã nát cùng với thìa nhỏ muối, nặn thành cái bánh tròn dẹt, đặt lên nồi đun cho nóng vừa rồi ấp vào rốn buộc lại. Nếu sau 1 thời gian vẫn chưa thấy thông thì lại tiếp tục làm bánh khác đắp lên.

11. Tốt cho dạ dày

Chỉ cần ăn hành từ hai đến ba lần trong một tuần cũng giúp bạn giảm được đáng kể nguy cơ phát triển bệnh ung thư dạ dày. Khi chế biến thịt, cho thêm ít hành sẽ giúp giảm lượng carcino-gens được tạo ra trong quá trình thịt được đun nấu ở nhiệt độ cao, từ đó giúp cho dạ dày tránh được sự tác động của chất độc hại này.

12. Chống bệnh tiểu đường

Càng ăn nhiều hành, nồng độ glucose được phát hiện trong miệng và tĩnh mạch càng ít. Nhiều cuộc thử nghiệm và những bằng chứng về lâm sàng cho thấy, chất allylpropy disulfide có tác động đến hiệu ứng này và hạ thấp lượng đường trong máu bằng cách làm tăng lượng in-sulin tự do sẵn có trong cơ thể. Mặt khác, hành cũng rất giàu crom, chất giúp các tế bào tương thích với insulin. Các cuộc nghiên cứu lâm sàng ở những bệnh nhân tiểu đường cho thấy, crom có thể làm giảm lượng đường huyết, hạ thấp nồng độ insulin từ đó giúp chống bệnh tiểu đường.

13. Lợi tiểu và làm sạch máu: Hành có tác dụng giữ nước để tránh sỏi tiết niệu, viêm khớp và bệnh gút. Bị nhiễm trùng đường tiết niệu, tiểu ra máu hãy lấy một nắm hành và củ nghệ bằng ba ngón tay cho vào một bát to nước, đun cạn còn độ nửa bát con, uống lúc còn hơi nóng, ngày uống 2 lần. Các đặc tính chống vi khuẩn của hành sẽ giúp làm giảm các cảm giác nóng khi tiểu tiện.

14. Chữa ù tai: Trong một số nền văn hóa, người ta nhúng bông vào nước ép hành và chấm vào tai để chống lại sự ù tai.

15. Rụng tóc: Một nghiên cứu đã cho thấy việc bôi nước ép hành tươi trên da đầu hai lần một tuần trong 2 tháng sẽ làm cho tóc mọc lại. Biện pháp này hiệu quả mà chi phí lại chắc chắn rẻ hơn những loại thuốc mọc tóc khác.

16. Tăng cường miễn dịch: Vị hăng của hành làm tăng lưu thông máu và thải độc qua tuyến mồ hôi. Đặc biệt trong thời tiết lạnh, hành có tác dụng tránh nhiễm trùng, giảm sốt và đổ mồ hôi ra cảm lạnh và cúm rất tốt. Hành còn tốt cho đường hô hấp, chữa ho, đau họng. Hành chứa allicin, có vai trò quan trọng chống lại vi khuẩn, vi rút, đặc biệt là vi khuẩn gây bệnh nấm da.

17. Loãng xương: 12gm hành lá có chứa 20 microgram vitamin K và 1,6 mg vitamin C. Cả hai loại vitamin này rất cần thiết cho sự tăng trưởng và duy trì xương chắc khoẻ. Đặc biệt, phụ nữ có thể tránh loãng xương và gãy xương bằng cách ăn hành lá thường xuyên giúp điều hòa lượng đường trong máu.

18. Hô hấp: Mỗi ngày bạn nên uống 3-4 thìa cà phê hỗn hợp nước ép hành và mật ong để làm tiêu đờm và ngăn chặn sự tạo đờm trong cơ thể. Hỗn hợp này cũng là vị thuốc để chống lại bệnh cảm lạnh thông thường

19. Nâng cao chất lượng “chăn gối”: Hành là một chất kích thích tình dục mạnh, chỉ đứng thứ hai sau tỏi do có chứa một loạt các vitamin giúp quá trình tiết hormone nam tính diễn ra bình thường, qua đó kích thích ham muốn tình dục. Vì vậy, người đàn ông không được mạnh mẽ trong chuyện phòng the nên ăn nhiều hành, ít nhất 3 bữa/tuần để cải thiện khả năng chăn gối của mình.

20. Ngăn ngừa ung thư

Cũng giống như tỏi, hành có khả năng chống lại được rất nhiều bệnh ung thư phổ biến. Trong các nghiên cứu tại khu vực Nam Âu, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng ăn hành giảm được 84% nguy cơ mắc bệnh ung thư vòm miệng và họng. Giảm 88% nguy cơ ung thư thực quản, 83% nguy cơ ung thư thanh quản và 25% nguy cơ ung thư vú, 73% nguy cơ ung thư buồng trứng, 73% nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt và 38% nguy cơ ung thư tế bào thận so với người không ăn hoặc ăn rất ít hành.

Giá trị kinh tế

Hành lá được trồng trên đất ruộng lúa với chu trình sản xuất từ 30-35 ngày, với diện tích 1 sào đất ruộng sẽ cho thu hoạch bình quân 1 tấn hành lá với giá bán hiện nay là 7.000đ/kg, sau khi trừ các khoản chi phí, thu nhập đem lại từ 4 - 4,5 triệu đồng/sào". Giá hành lá bình quân các thời kỳ từ 10.000đ-12.000đ/kg, đặc biệt trong mùa mưa lũ, có lúc giá hành lá lên đến 25.000đ/kg. Như vậy bình quân người trồng hành lá có thu nhập khoảng 5 - 7 triệu đồng/sào/chu kỳ.

Bình luận