Lúa Nước

Lúa là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới, cùng với ngô (Zea Mays L.), lúa mì (Triticum sp. tên khác: tiểu mạch), sắn (Manihot esculenta Crantz, tên khác khoai mì) và khoai tây (Solanum tuberosum L.). Theo quan niệm xưa lúa cũng là một trong sáu loại lương thực chủ yếu trong Lục cốc.

Lúa trong bài này nói tới hai loài (Oryza sativa và Oryza glaberrima) trong họ Poaceae, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới khu vực đông nam châu Á và châu Phi. Hai loài này cung cấp hơn 1/5 toàn bộ lượng calo tiêu thụ bởi con người. Lúa là loài thực vật thuộc một nhóm các loài cỏ đã thuần dưỡng. Lúa sống một năm, có thể cao tới 1-1,8 m, đôi khi cao hơn, với các lá mỏng, hẹp khoảng (2-2,5 cm) và dài 50–100 cm. Tuỳ thời kì sinh trưởng, phát triển mà lá lúa có màu khác nhau. 

Khi lúa chín ngả sang màu vàng. Các hoa nhỏ tự thụ phấn mọc thành các cụm hoa phân nhánh cong hay rủ xuống, dài 35–50 cm. Hạt là loại quả thóc (hạt nhỏ, cứng của các loại cây ngũ cốc) dài 5–12 mm và dày 2–3 mm. Cây lúa non được gọi là mạ. Sau khi ngâm ủ, người ta có thể gieo thẳng các hạt lúa đã nảy mầm vào ruộng lúa đã được cày, bừa kỹ hoặc qua giai đoạn gieo mạ trên ruộng riêng để cây lúa non có sức phát triển tốt, sau một khoảng thời gian thì nhổ mạ để cấy trong ruộng lúa chính. 

Sản phẩm thu được từ cây lúa là hạt lúa. Sau khi xát bỏ lớp vỏ ngoài thu được sản phẩm chính là gạo và các phụ phẩm là cám và trấu. Gạo là nguồn lương thực chủ yếu của hơn một nửa dân số thế giới (chủ yếu ở châu Á và châu Mỹ La tinh), điều này làm cho nó trở thành loại lương thực được con người tiêu thụ nhiều nhất. Trong tiếng Anh, từ rice (lúa, gạo) có nguồn gốc từ arisi trong tiếng Tamil. Lúa là loài cây trồng ngắn ngày nhưng cũng có thể coi là dài ngày.

Phân bổ

Cây lúa được trồng rộng rải và hình thành những nền văn minh lúa nước xuất hiện ở Châu Á khoảng 4.000 năm và ở Châu Phi khoảng 3.500 năm trước đây.

- Cây lúa trồng ở Châu Á

Các nhà khoa học hiện đại công nhận rằng cây lúa được thuần hóa từ cây lúa hoang dại thành cây lúa trồng xuất hiện đầu tiên trong khu vực đồng bằng thung lũng của sông Dương Tử ở Trung Quốc . Số lượng lớn các di chỉ lúa hoang dại trong trầm tích ở thung lũng Diaotonghuan (TQ) có niên đại khoảng12.000-11.000 năm trước Công nguyên (TCN). Những thay đổi dạng hình của lúa hoang ở Diaotonghuan có niên đại từ 10.000-8.000 năm, cho thấy rằng trong thời gian này cây lúa hoang bắt đầu được thuần hóa.

Ngay sau đó hai chính giống   Indica và   Japonica / Sinica   lúa đã được trồng ở Trung tâm Trung Quốc. Trong 3 thiên niên kỷ TCN đã mở rộng nhanh chóng nghề trồng lúa vào lục địa Đông Nam Á và về phía Tây qua Ấn Độ và Nepal .

Các hóa thạch cây lúa tìm thấy ở Ấn Độ sớm nhất từ 7.000-6.000 năm TCN, mặc dù hiện nay được chấp nhận rộng rải là cây lúa trồng ở Ấn Độ trong khoảng 3000-2500 TCN vớ những phát hiện các nền văn minh lúa nước ở các khu vực thung lũng sông Ấn (Indus).

Hiện nay các loài lúa hoang dại được xem là tổ tiên của loài lúa trồng vẩn còn mọc hoang ở Assam   và   Nepal . Nó dường như đã xuất hiện khoảng 1.400 TCN ở miền Nam Ấn Độ sau khi cây lúa được thuần hoá trong vùng đồng bằng phía bắc.

Ngày nay, phần lớn sản lượng gạo thế giới được sản xuất ở Trung Quốc ,   Ấn Độ ,  Indonesia ,   Pakistan , Bangladesh ,   Việt Nam ,   Thái Lan ,    Myanmar ,  Philippines  và   Nhật Bản. Châu Á hiện nay vẫn còn chiếm 92% tổng sản lượng lúa gạo của thế giới.

- Cây lúa trồng ở  Châu Phi

Lúa Châu Phi đã được gieo trồng cách nay khoảng 3.500 năm. Giữa 1500 và 800 năm TCN,   Oryza glaberrima lan tỏa từ trung tâm khởi phát ban đầu của nó là đồng bằng sông  Niger River và mở rộng đến Senegal . Tuy nhiên, nó không bao giờ phát triển xa khu vực ban đầu của nó do loài lúa Châu Phi là loại hạt cốc chưa thật hấp dẫn. 

Loài lúa Châu Phi dần về sau này bị cạnh tranh bởi loài lúa Châu Á ngay trên lục địa Châu Phi. Luồng thứ nhất mang các giống lúa cổ đại Châu Á vào Châu Phi bở người Á Rập từ bờ biển phía Đông Địa Trung Hải và khoảng giữa thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 11 sau Công nguyên. Nó đã giúp Châu Phi chinh phục nạn đói của năm 1203. Luồng thứ hai du nhập các giống lúa Châu Á cận đại vào Châu Phi do các nhà thám hiểm và do thám thuộc địa người Bồ Đào Nha đã mang các giống từ Ấn Độ và Đông Nam do họ thu thập được trong các hải trình vào đến Châu Á và mang các giống lúa Châu Á vào Châu Phi trong giữa thế kỷ 16. Luồng thứ ba nhập các giống lúa Châu Á vào Châu Phi sau khi Viện lúa Quốc tế IRRI đã tạo ra hàng loạt các giống lúa cải tiến bắt đầu từ giống lúa IR8 được phóng thích từ năm 1966.

Cây lúa Châu Á có phẩm chất gạo ngon hơn lúa Châu Phi nhưng khó thích nghi hơn lúa Châu Phi nên cũng phát triển chậm chạp trên lục địa này.

- Cây lúa trồng ở Trung Đông

Ở Iraq cây lúa gốc Châu Á được trồng ở một số khu vực ở miền nam Iraq . Với sự nổi lên của Hồi giáo, nó di chuyển về phía Bắc đến Nisibin, bờ phía Nam của biển  Caspian và sau đó vượt ra ngoài thế giới Hồi giáo đến thung lung của sông  Volga . Ở  Ai Cập , lúa gạo chủ yếu được trồng ở đồng bằng sông Nile. Ở Palestine , ngày nay là Israel , lúa được trồng ở thung lũng Jordan . Lúa cũng được trồng ở Yemen .

- Cây lúa trồng ở Châu Âu

Người Moor đã mang các giống lúa Châu Á đến bán đảo Iberia   trong thế kỷ thứ 10. Theo ghi chép, nó đã được trồng ở   Valencia   và   Majorca . Trong Majorca , Trồng lúa dường như đã dừng lại sau khi người Kitô giáo chinh phục, bài bác ăn cơm từ gạo ở Châu Á (giả thuyết này không chắc chắn).

Người Hồi giáo cũng mang gạo  Sicily, nơi mà nó là loại cây trồng quan trọng lâu trước khi nó được ghi nhận ở vùng đồng bằng   Pisa   (1468), hoặc trong đồng bằng Lombard (1475), nơi canh tác của nó được thúc đẩy bởi Ludovico Sforza, Công tước của Milan, và chứng minh trong các trang trại mô hình của ông.

Sau thế kỷ 15, gạo lan rộng khắp nước Ý và sau đó đến Pháp , sau đó lan truyền đến tất cả các Châu lục trong thời kỳ thăm dò thuộc địa ở Châu Âu.

- Cây lúa trồng ở vùng Caribbean và Châu Mỹ Latin

Lúa trồng không có nguồn gốc bản địa ở Châu Mỹ và đã được mang tới Châu Mỹ Latin và vùng vịnh Caribbean bởi thực dân Châu Âu khi chiếm đóng thuộc địa này từ đầu thế kỷ thứ 16. Thực dân Tây Ban Nha giới thiệu các giống lúa Châu Á được trồng ở  Châu Phi vào Mexico trong những năm 1520s tại   Veracruz   và   Bồ Đào Nha giới thiệu các giống lúa Châu Á đến Brazil.

Người nô lệ châu Phi   đóng vai trò chính trong việc trồng trọt cây lúa ở Tân lục địa, trong thời kỳ đầu ở Châu Mỹ trồng giống lúa Châu Phi là chủ yếu do chính những người nô lệ mang hạt giống từ Châu Phi đến Châu Mỹ và sau đó chính thực dân Châu Âu mang các giống lúa do họ chọn ra từ các thuộc địa ở Châu Á sang trồng ở các thuộc địa ở Châu Mỹ.

Hiện nay một số Công ty ở Bắc Mỹ đang tích cực vận động các thổ dân ở Miền Đông Hoa Kỳ khai thác giống lúa hoang dại không có liên di truyền với hai loài lúa trồng Châu Á và Châu Phi để dùng gạo trong hệ thống nhà hàng và khách sạn nghỉ dưỡng.

- Lúa trồng ở Hoa Kỳ

Năm 1694, cây lúa được nhập vào Bang Nam Carolina, có thể có nguồn gốc từ   Madagascar. Ở Hoa Kỳ, thực dân   Bang Nam Carolina và  Georgia   phát triển và tích lũy được của cải rất lớn từ các lao động nô lệ thu được từ   Senegambia   khu vực Tây Phi và từ ven biển Sierra Leone .

Cây lúa vùng Đông Nam Mỹ trở nên ít lợi nhuận hơn với sự mất mát của lao động nô lệ sau cuộc nội chiến Hoa Kỳ, và cuối cùng mất đi vào cuối thế 20.

Hiện nay cây lúa đang phục hồi và mở rộng diện tích ở Hoa kỳ nhằm vào mục đích thương mại. Người Mỹ chính thống rất ít ăn cơm, một phần sản lượng gạo ở Mỹ được bán ở nội địa dành cho người Mỹ gốc Chây Á và Châu Phi, phần còn lại được xuất khẩu theo các gói viện trợ lương thực.

Ở miền Nam Hoa Kỳ , lúa đã được trồng ở phía nam các Bang  Arkansas ,  Louisiana , và phía đông Texas kể từ giữa thế kỷ 19.

Trong những năm gần đây sản xuất lúa gạo đã tăng lên ở Bắc Mỹ, đặc biệt là trong  đồng bằng sông Mississippi ở các khu vực thuộc các bang   Arkansas   và  Mississippi .

Hơn 100 giống lúa được sản xuất thương mại chủ yếu trong sáu tiểu bang (Arkansas , Texas , Louisiana , Mississippi , Missouri , Và California ) ở Mỹ.

Sản xuất lúa gạo ở Mỹ (2006) có giá trị 1,88 tỷ USD, khoảng một nửa được   xuất khẩu. Gạ Mỹ cung cấp khoảng 12% của gạo thương mại thế giới. Phần lớn sử dụng trong nước. Ở Mỹ gạo là thực phẩm sử dụng trực tiếp (58%), trong khi 16% được sử dụng trong thực phẩm chế biến và bia,10% còn lại dùng làm thức ăn chăn nuôi.

- Cây lúa trồng ở Úc

Lúa là một trong những cây trồng ở Úc do người định cư từ Anh mang đến, là những người người đã có kinh nghiệm phát triển với các ruộng lúa ở Châu Mỹ và tiểu lục địa Ấn Độ.

Mặc dù nỗ lực để trồng lúa ở phía Bắc nước Úc đã thực hiện trong nhiều năm, họ đã luôn thất bại vì độc tố sắt và   mangan trong đất trồng lúa ở Úc và những thiệt hại do sâu bệnh.

Trong những năm 1920, cây lúa ở Úc được xem như là một cây trồng có thể   thủy lợi hóa trong phạm vi lưu vực sông Murray-Darling vốn không thuận lợi cho việc trồng hoa quả và quá khó phát triển cây lúa mì.

Mặc dù lượng mưa thấp ở vùng ôn đới của Úc nhưng đầu tư thủy lợi vẩn còn rẽ, cây lúa phục hồi trở lại ở khu vực  Riverina vào năm 1951.

Ngay khi Úc sản xuất lúa gạo vượt yêu cầu tiêu thụ ở trong nước, gạo được xuất khẩu Nhật Bản đã trở thành một nguồn lớn ngoại tệ.

Các ngành công nghiệp lúa gạo của Úc là một cơ hội, với diện tích được trồng khác nhau được phân bố nước từ các công trình thủy lợi ở  Murray   và ở Murrumbidgee.

Từ năm 1961 đến 2002, bình quân lượng gạo tiêu thụ đầu người trên thế giới tăng thêm 40%. Lúa là cây trồng quan trọng nhất ở Châu Á . Ví dụ ở Cam-pu-chia có 90% của tổng số diện tích đất nông nghiệp được sử dụng để trồng lúa.

Năng suất lúa từ dưới 1 tấn/ha ở vùng rất ít lượng mưa nhưng không được tưới cho đến hơn 10 tấn /ha trong các hệ thống thâm canh có tưới nước ở vùng ôn đới.

Cây lúa phát triển trên nhiều hệ sinh thái khác nhau, những nơi trồng được cây lúa thường trồng các loại cây khác không có hiệu quả ví dụ như ở các đầm lầy.

Trên thế giới hiện nay cây lúa được phát triển trên 4 kiểu môi trường chính, đó là: vùng chủ động tưới tiêu, vùng đồng bằng lệ thuộc nước trời, vàng cao lệ thuộc nước trời vùng đầm lầy ngập lũ sâu.

- Môi trường chủ động tươi tiêu

Trên thế giới, khoảng 80 triệu ha được tưới tiêu vùng đồng bằng lúa cung cấp 75% sản lượng gạo của thế giới. Các vùng này còn là hệ thống sản xuất lúa gạo quan trọng nhất cho an ninh lương thực thế giới, đặc biệt là ở các nước châu Á. Cây lúa trồng trong điều kiện tưới tiêu chiếm khoảng 40% diện tích cây trồng chủ động tưới tiêu và 30% diện tích vùng nước ngọt của thế giới.

Hiện nay, năng suất trung bình vùng chủ động tưới tiêu khoảng 5,4 tấn/ha. Tại các vùng khí hậu ôn đới, lúa chủ động tưới tiêu trồng duy nhất 1 vụ trong năm với năng suất cao có thể đạt 8-10 tấn / ha trở lên.

- Môi trường đồng bằng lệ thuộc nước trời

Lúa vùng đồng bằng lệ thuộc nước trời phổ biến ở Châu Á và Châu Phi. Ở vùng này cây lúa được trồng vào mùa mưa, dể bị rũi ro do khô hạn, ngập úng và gió, bão.

Khoảng 60 triệu ha của cây lúa  vùng đất lệ thuộc nước trời cung cấp khoảng 20% ​​sản lượng gạo của thế giới. 

Có khoảng 27 triệu ha lúa vùng thấp lệ thuộc nước trời thường xuyên bị ảnh hưởng bởi hạn hán. Khoảng 20 triệu ha có thể bị ngập lụt không kiểm soát được, từ lũ quét trong thời gian tương đối ngắn cho đến các khu vực nước ngập sâu có thể hơn 100 cm nước trong vài tháng. 

Vùng thấp lệ thuộc nước trời là vùng tập trung đông đúc dân cư, là nơi có nhiều người nông dân nghèo đói nhất thuộc khi vực Châu Phi, Nam Á, các bộ phận của khu vực Đông Nam Á . Bởi vì môi trường trồng lúa rất khó khăn, chi phí cao và sản lượng bấp bênh. Vùng này ít được đầu tư phân bón nên năng suất rất thấp (1-2,5 tấn / ha) và đa số gia đình nông dân vẫn còn trong cảnh nghèo đói.

- Môi trường vùng cao lệ thuộc nước trời

Lúa nương được trồng trong điều kiện khô hạn trong hệ thống canh tác hỗn hợp mà không có thủy lợi và không có cày bừa. Vùng này chiếm khoảng 14 triệu ha, với nhiều khó khăn gây ra năng suất thấp (thường chỉ có khoảng 1 tấn/ha), đóng góp chỉ có 4% tổng sản lượng gạo của thế giới.

Khoảng 70% diện tích lúa nương trên thế giới ở Châu Á. Có những vùng trồng lúa nương nổi tiếng như ở vùng núi của Philippies, vùng núi ở tỉnh Hà Giang thuộc miền Bắc Việt Nam.

Ở Trung và Tây Phi, vành đai lúa Châu Phi , các khu vực miền núi chiếm khoảng 40% diện tích trồng lúa và sử dụng khoảng 70% nông dân trồng lúa của khu vực này.

- Môi trường ngập sâu theo mùa

Lúa ngập sâu hay lúa nổi thuộc loài lúa Châu Á (Oryza sativa) phát triển trong điều kiện ngập nước sâu từ 50 cm (20 in) trở lên với thời gian ngập ít nhất khoảng một tháng. 

Nhiều hơn   100 triệu   người dân ở miền Nam và Đông Nam Á dựa vào     cây lúa nổi để sinh sống. Có hai dạng lúa chịu ngập là lúa cao cây truyền thống và lúa nổi.

-Lúa cao cây truyền thống là những giống được trồng ở những vùng vào mùa lũ có độ sâu nước từ 50-100 cm trong khoảng thời gian vài tháng trong chu kỳ sinh trưởng của chúng.

-Lúa nổi phát triển trong nước sâu hơn 100 cm, thân có thể kéo dài 3-4 m tùy theo độ ngập và phần lớn thân cây lúa bị dìm trong nước, cây lúa vươn khỏi măt nước nhờ các lóng của chúng chứ khí như những chiếc phao để phần trên ngọn nổi trên mặt nước.

Lúa chịu ngập và lúa nổi được tìm thấy trong môi trường dễ bị lũ lụt, ở các khu vực tích nước định kỳ vào mùa mưa lũ.

Vùng Đồng Tháp Mười ở đồng bằng Sông Cữu Long trước năm 1980 vẩn trồng phổ biến các giống chịu ngập và lúa nổi, sau này được chuyển thành hai vụ thâm canh lúa cải tiến trong mùa khô. Hàng ngàn giống lúa chịu ngập và lúa nổi ở ĐBSCL của Việt Nam bị mất đi trong 4 thập kỷ qua, chúng là nguồn gen quí để lai tạo ra các giống lúa chịu ngập sống được trong môi trường trầm thủy.

Các giống lúa Indica  là những loại chính của cây lúa chịu ngập và lúa nổi, mặc dù giống Japonica đã được tìm thấy ở  Miến Điện ,   Bangladesh   và Ấn Độ .

Ngày nay, lúa hoang ở Châu Mỹ được Zizania palustris không có liên quan di truyền với hai loài lúa trồng Châu Á và Châu Phi được các Công ty Mỹ và Canada vận động thổ dân Bắc Mỹ trồng để kinh doanh nguồn thực phẩm lúa hoang dại cổ phục vụ cho du lịch và nghỉ dưỡng.

Chăm sóc

I. CHỌN GIỐNG LÚA

Nên sử dụng các giống có thời gian sinh trưởng từ 90-100 ngày, năng suất cao, chống chịu với một số sâu bệnh chính và có phẩm chất gạo tốt đủ tiêu chuẩn xuất khẩu như OM1490, OMCS2000, IR64, MTL250, VD95-20, AS996, OM3536, Lúa thơm, v.v.

II. CHUẨN BỊ ĐẤT

Đối với vụ Đông xuân:

Dọn sạch cỏ.
Trục đánh bùn và san bằng mặt ruộng bằng máy cày bánh lồng có trang kèm theo.

Đối với vụ Hè thu:

Cày đất bằng máy với độ sâu từ 15-20 cm.
Phơi ải trong thời gian 1 tháng.
Bừa, trục và san bằng mặt ruộng bằng máy kéo bánh lồng có công cụ trang phẳng mặt ruộng kèm theo.
Chú ý: Ruộng phải bằng phẳng, có hệ thống thoát nước tốt và không đọng nước.

III. BIỆN PHÁP GIEO SẠ

Chuẩn bị hạt giống

Làm sạch hạt lúa trước khi ngâm ủ bằng cách ngâm hạt trong nước muối 15% để loại bỏ hạt lép lửng và lẫn tạp.
Sau đó, cho vào bao ngâm trong nước sạch 24 - 30 giờ. Xử lý hạt giống trước khi đem ủ bằng phân bón lá HVP GA3
Rửa bằng nước sạch, để ráo nước, ủ trong 24 – 36 giờ tùy giống đảm bảo hạt vừa nhú mầm.
Xử lý với thuốc Cruiser plus (tốt nhất là lúc ngót lần cuối khoảng 12 giờ trước khi gieo) trước khi gieo. 

Biện pháp gieo sạ

Gieo hàng bằng công cụ gieo hàng kéo tay hoặc liên hợp với máy kéo.
Lượng hạt giống gieo: 100-120 kg/ha.
Khoảng cách gieo: hàng cách hàng 20 cm.

IV. BÓN PHÂN

Ở giai đoạn để nhánh (22-25 NSS) và làm đòng (42-45 NSS), sử dụng bảng so màu lá để điều chỉnh lượng phân đạm cần bón.

Tùy theo loại đất và mùa vụ mà loại phân, liều lượng và thời gian bón cho lúa (tính cho 1000 m2) như sau:

*Đất phù sa:

Vụ hè thu: Nên bón lót trước khi gieo 20-25 kg phân hữu cơ sinh học HVP 401.B (dạng hạt) + 2 kg HVP ORGANIC (hoặc có thể bón ở giai đoạn 7-10 ngày sau gieo); ở giai đoạn 7-10 ngày sau gieo (NSG) bón: 15 kg NPK (20-20-15); giai đoạn 22-25 NSG bón: 4-5 kg DAP + 7-8 kg Urea; giai đoạn 42-45 NSG bón: 5-6 kg Urea + 3 kg KCl.
Vụ đông xuân: Nên bón lót trước khi gieo 30-35 kg phân hữu cơ sinh học HVP 401.B (dạng hạt) + 2 – 3 kg HVP ORGANIC (hoặc có thể bón ở giai đoạn 7-10 ngày sau gieo); ở giai đoạn 7-10 ngày sau gieo (NSG) bón: 10 kg NPK (20-20-15) + 4-5 kg Urea; giai đoạn 22-25 NSG bón: 4-5 kg DAP + 7-8 kg Urea; giai đoạn 42-45 NSG bón: 7-8 kg Urea + 3 kg KCl. Phun KNO3 trước và sau trỗ 7 ngày, 150 g/bình 8 lít, 4 bình.

* Đất phèn nhẹ và trung bình

Vụ hè thu: Nên bón lót trước khi gieo 30-35 kg phân hữu cơ sinh học HVP 401.B (dạng hạt) + 2 kg HVP ORGANIC (hoặc có thể bón ở giai đoạn 7-10 ngày sau gieo); ở giai đoạn 7-10 ngày sau gieo (NSG) bón: 15 kg NPK (20-20-15); giai đoạn 22-25 NSG bón: 6-7 kg DAP + 6-7 kg Urea; giai đoạn 42-45 NSG bón: 4-5 kg Urea + 3 kg KCl.
Vụ đông xuân: Nên bón lót trước khi gieo 35 – 40 kg phân hữu cơ sinh học HVP 401.B (dạng hạt) + 2 – 3 kg HVP ORGANIC (hoặc có thể bón ở giai đoạn 7-10 ngày sau gieo); ở giai đoạn 7-10 ngày sau gieo (NSG) bón: 10 kg NPK (20-20-15); giai đoạn 22-25 NSG bón: 5-6 kg DAP + 6-7 kg Urea; giai đoạn 42-45 NSG bón: 5-6 kg Urea + 3 kg KCl.
 
*Sử dụng phân bón lá: Để cung cấp kịp thời dinh dưỡng cho sự phát triển của cây lúa theo từng giai đoạn có thể sử dụng phân bón lá theo quy trình sau:

+ Giai đoạn 7-10 ngày sau gieo phun HVP 401.N chuyên lúa để kích thích bộ rễ lúa phát triển mạnh.

+ Giai đoạn sau sạ 15 – 20 ngày phun HVP GIÀU LÂN VÀ MAGIÊ - THẦN DƯỢC GIẢI ĐỘC PHÈN để kích thích lúa đẻ nhánh (ở những vùng đất phèn, lúa bị ngộ độc hữu cơ có thể phun sớm hơn (7 ngày sau gieo) và phun định kỳ cách nhau 7 ngày/lần).

+ Giai đoạn 40 – 45 ngày sau sạ phun HVP-SIÊU TO HẠT + HVP GIÀU LÂN VÀ MAGIÊ - THẦN DƯỢC GIẢI ĐỘC PHÈN để giúp lúa làm đòng tốt, đòng to mập.

+ Giai đoạn trước khi trổ 7 – 10 ngày (55 – 60 NSG) phun HVP AUXIN ORGANIC để giúp lúa trổ nhanh và tập trung.

+ Khi lúa bắt đầu trổ sẹt phun HVP- SIÊU TO HẠT giúp tăng tỉ lệ hạt chắc/bông, giảm tỉ lệ bạc bụng.

+ Khi lúa ngậm sữa phun HVP 1001.S (0-25-25) 2 lần mỗi lần các nhau 7-10 ngày. Giúp hạt lúa sáng đẹp, tăng năng suất và chất lượng hạt gạo thành phẩm.

V. QUẢN LÝ NƯỚC

- Giai đoạn cây con (0-7 NSG): rút cạn nước trước khi sạ và giữ khô mặt ruộng trong vòng 3 ngày sau khi gieo, ngày thứ 4 cho nước láng mặt ruộng 1 ngày sau đó rút cạn để đảm bảo đủ ẩm bề mặt ruộng.

- Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (7-42 NSG): Giữ nước trên mặt ruộng ở mức 5-7 cm. Trong giai đoạn này vào lúc khoảng 30-35 NSG cần tháo cạn nước cho đất nứt nẻ chân chim, lá lúa hơi vàng, sau đó cho nước mới vào.

- Giai đoạn sinh trưởng sinh thực (42-65 NSG): Giữ nước trong ruộng ở mức 3-5 cm.

- Giai đoạn chín (65-95 NSG): Giữ nước trong ruộng ở mức 2-3 cm cho đến giai đoạn chín vàng (7-10 ngày trước khi thu hoạch) tháo cạn nước trong ruộng.

Món ăn

Phở

Bún

Hủ Tiếu

Cơm lam

Cơm nị

Xôi ngũ sắc

Cơm tấm

Bánh đúc

Bánh căn

Bánh bèo

Bệnh

I. PHÒNG TRỪ CỎ DẠI

Có thể sử dụng một số loại thuốc phòng trừ cỏ dại như sau: Sofit 300EC, Meco 60EC, Vigor 33EC, Sirius 10WP, Nominee 10SC, Tiller-s, Ronstar 25EC, OK 720DD, Facet 25SC, v.v.

II. PHÒNG TRỪ SÂU HẠI

Áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM). Khi thật cần thiết, có thể sử dụng một trong các loại thuốc sau đây để phòng trừ:

  • Rầy nâu: Applaud 10BHN, Actara 25WG, Bassa 50ND, Mipcin 25BHN và Trebon 10ND.
  • Bù lạch: Actara 25WG, Bassa 50ND, Fastac 5ND, Regent 300WDG và Trebon 10ND.
  • Sâu phao: Fastac 5ND, Padan 95SP và Regent hai lúa xanh 300WDG.
  • Sâu cuốn lá: DDVP 50ND, Fastac 5ND, Padan 95SP và Trebon 10ND.
  • Sâu dục thân: Basudin 10H, Padan 95SP, Regent hai lúa xanh 300WDG và Regent 10H.
  • Bọ xít các loại: Bassa 50ND và Padan 10H.

III. PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI

Bệnh đạo ôn: Thăm đồng thường xuyên 5-7 ngày lần để phát hiện bệnh kịp thời. Khi thấy có một vài vết bệnh xuất hiện, sử dụng thuốc hóa học như: Beam 20WP; Trizole 20WP; Fuji-one 40EC; Bump 650WP; FILIA-525EC; Kabim 30EC... để phun.

Bệnh khô vằn: Sử dụng các loại thuốc như Anvil, Tilt super, Amistar Top…

Bệnh Bạc lá: Bệnh Bạc lá do vi khuẩn gây ra, bệnh thường phát triển và gây hại nặng vụ Hè Thu trong giai đoạn 40 NSG trở đi. Bệnh lây lan qua con đường hạt giống. Để phòng trị bệnh chủ yếu sử dụng giống kháng kết hợp với xử lý hạt giống như đã khuyến cáo.

IV. PHÒNG TRỪ CHUỘT

- Phối hợp nhiều biện pháp cùng 1 lúc: Thời vụ tập trung, vệ sinh đồng ruộng, đặt bẫy, đào hang, bỏ khí đá vào hang, bơm nước vào hang, dùng chó săn bắt.

- Đánh bả chuột: dùng lúa mộng hay thức ăn gia súc làm mồi trộn với thuốc Fokeba 5%  hay  Zinphos 20 % với tỉ lệ 1/50, nên đặt nhiều đợt, cách nhau 4-5 đêm, giá để mồi có thể  là ống tre, vỏ dừa. Sử dụng thuốc viên Klerat 0,05 % để nhét vào miệng hang.

Bẫy cây trồng: trong khu vực khoảng 1 km2 (100 ha) bố trí 5 ruộng gieo trồng sớm hơn 1 tháng, cách nhau 500 m, mỗi ruộng có hàng rào ny lông cao 80-100cm và 8 lồng hom (2/bờ). Sử dụng giống lúa thơm để dẫn dụ chuột.

- Dùng thuốc xông hơi như DDVP, Phosphine hay khí đá bỏ vào hang và bịt miệng hang lại.

- Gặt lúa dồn từ xung quanh vào giữa, cuối cùng bao lưới để bắt.

Tác dụng y học

Ở Việt Nam, cây lúa đã gắn liền với đời sống vật chất và tinh thần của con người. Cây lúa không những là cây lương thực có ý nghĩa đặc biệt đối với nền kinh tế mà còn là cây cho nhiều vị thuốc quý.

Cốc nha là hạt thóc tẻ đã nẩy mầm. Theo YHCT, cốc nha có vị ngọt, tính bình, quy vào hai kinh tỳ, vị. Cốc nha có công năng tiêu thực, hóa tích, được dùng trong các trường hợp tiêu hóa kém, đầy bụng. Khi dùng có thể phối hợp với sơn tra, mỗi thứ 12 g, dưới dạng  thuốc sắc. Lưu ý, cốc nha  làm mất sữa, do đó không nên dùng cho phụ nữ khi đương ở thời kỳ cho con bú. Khi “cai sữa” mà hai vú bị căng tức, mỗi ngày có thể dùng 100g, sắc uống liền trong ba ngày, sữa sẽ tiêu hết.

Đạo mễ là gạo nếp. Gạo nếp có mùi thơm ngon, thể chất mềm dẻo, có vị ngọt tính ấm, có tác dụng bổ tỳ vị, bổ trung tiêu, ích thận, được sử dụng trong trường hợp tiểu ra dưỡng chấp Đông y gọi là “cao lâm”. Còn dùng trong các trường hợp tỳ vị hư yếu, nôn mửa, đau bụng. Trên thực tế, gạo nếp hoặc gạo tẻ được sử dụng trong một số trường hợp sau đây.

Giải nhiệt: Gạo tẻ, sao tới vàng đậm 100g  thêm 2 - 3 lít nước, đun kỹ. Để nguội, uống hằng ngày, nhất là ngày nóng bức, có tác dụng giải nhiệt, giải khát, chống say nắng.

Giải thử, hạ sốt: Khi bị bị sốt cao, ra nhiều mồ hôi, mặt đỏ nhừ, thậm chí phát cuồng, mê sảng, YHCT gọi là tà nhiệt đã nhập vào phần dinh, phần khí, phần huyết, phần tâm bào, có thể dùng phương “Bạch hổ thang” gồm: Thạch cao 32g, tri mẫu 16g, ngạnh mễ 32g, cam thảo 8g. Dùng dưới dạng thuốc sắc, chia đều, ngày uống 3 lần.

Ngạnh mễ hay còn gọi là gạo, sao hơi vàng, có tác dụng sinh tân, chỉ khát, giúp cơ thể giảm mệt mỏi khi sốt cao mà  mồ hôi ra nhiều. Trong các trường hợp dùng gạo để trị bệnh, thường dùng dưới dạng “gạo lức”. Gạo lức thường được dùng  trong các trường hợp ăn kiêng.

Trị táo kết, trướng bụng:

Trong trường hợp bị táo kết, bụng trướng lên, mặt bị vàng ra, ợ chua, ăn uống không tiêu, có thể dùng  gạo nếp 32g,  gừng khô 4g, vỏ quýt  2g, hạt ba đậu 2 hạt. Tất cả đem sao vàng. Sau đó nhặt bỏ hạt ba đậu đi, rồi đem 3 vị còn lại tán thành bột mịn, thêm ít hồ bột gạo nếp, trộn đều, làm thành viên nhỏ, có kích thước bằng hạt đậu xanh. Ngày uống 5-7 viên với nước sắc của gừng tươi và lá tía tô.

Giải cảm hàn, giảm đau, giảm ngứa khi dị ứng thời tiết:

Khi bị cảm lạnh, cơ thể đau mỏi, đau đầu, đôi khi bụng đau lạnh… lấy gạo sao nóng già, có thể cho thêm ít muối ăn để tăng khả năng giữ nhiệt. Bọc gạo vào miếng vải mỏng, chà xát, hoặc đấm nhẹ vào nơi bị đau, bị ngứa. Trường hợp cảm lạnh thì xoa mạnh vào vùng thái dương, vùng trán, vùng gáy, dọc sống lưng, bụng,  lòng bàn tay, bàn chân.

Nước vo gạo  (mễ trấp): Dùng nước vo gạo,  loại mới vo của gạo tẻ, nếp đều được, làm phụ liệu để tẩm vào thuốc (bạch truật), nhằm tăng tác dụng kiện tỳ, giảm tính háo của vị thuốc. Hoặc dùng  ngâm một số vị thuốc, để loại đi các chất  có vị chát (tanin) trong dược liệu (hà thủ ô đỏ, hà thủ ô trắng…), hoặc loại đi các chất có mùi hắc, tính háo nhiệt (thạch xương bồ, thủy xương bồ…).

Cám gạo: Cám gạo chứa nhiều vitamin nhóm B, các acid béo chưa no… Có thể dùng cám của gạo tẻ, gạo nếp làm dược liệu để chườm nóng như trường hợp chườm gạo nói trên. Ngoài ra còn dùng làm phụ liệu cho việc chế biến thuốc với mục đích tăng thêm tính kiện tỳ, tính ấm, giảm tính háo và làm cho vị thuốc trở nên vàng, giòn, dễ chiết xuất, dễ xay nghiền trong bào chế của một số vị thuốc: bạch truật, thương truật, hoài sơn…

Rơm lúa nếp: Lấy rơm lúa nếp còn mới, có mầu vàng, khô, thơm, cắt đoạn 3-5 cm, rửa sạch, đem nấu. Cứ 100 g, thêm nước, sắc đặc lấy 1 bát, phơi sương một đêm, sáng sớm hôm sau cho uống, trị chứng đái ra chất đục trắng
Vỏ trấu: Được dùng làm phụ liệu chế biến thuốc cổ truyền  trong việc sao gián tiếp đối với  một số vị thuốc: Trạch tả, bán hạ… làm cho vị thuốc trở nên vàng đều và giòn xốp. 

Giá trị kinh tế

Lương thực

Hạt thóc trước tiên được xay để tách lớp vỏ ngoài, đây là gạo xay còn lẫn trấu. Quá trình này có thể được tiếp tục, nhằm loại bỏ mầm hạt và phần còn sót lại của vỏ, gọi là cám, để tạo ra gạo. Gạo sau đó có thể được đánh bóng bằng glucoza hay bột tan (talc) trong một quy trình gọi là đánh bóng gạo, chế biến thành bột gạo hoặc thóc được chế biến thành loại thóc luộc thô. Gạo cũng có thể được bổ sung thêm các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các chất bị mất đi trong quá trình xay xát. Trong khi phương pháp đơn giản nhất là trộn thêm các chất dinh dưỡng dạng bột mà rất dễ bị rửa trôi theo nước (tại Hoa Kỳ thì gạo được xử lý như vậy cần có tem mác cảnh báo chống rửa/vo gạo) thì phương pháp phức tạp hơn sử dụng các chất dinh dưỡng trực tiếp lên trên hạt gạo, bao bọc hạt gạo bằng một lớp chất không hòa tan trong nước có tác dụng chống rửa trôi.

Trong khi việc rửa gạo làm giảm sự hữu ích của các loại gạo được làm giàu thì nó lại là cực kỳ cần thiết để tạo ra hương vị thơm ngon hơn và ổn định hơn khi gạo đánh bóng (bất hợp pháp tại một số quốc gia, như Hoa Kỳ) được sử dụng.

Cám gạo, gọi là nuka ở Nhật Bản, là một mặt hàng có giá trị ở châu Á và được dùng cho nhiều nhu cầu thiết yếu hàng ngày. Nó là lớp chất dầu ẩm ướt bên trong được đun nóng lên để sản xuất một loại dầu ăn có lợi cho sức khỏe. Ứng dụng khác là để làm một loại rau dầm có tên gọi là tsukemono.

Tại nhiều nơi, gạo còn được nghiền thành bột để làm nhiều loại đồ uống như amazake, horchata, sữa gạo và rượu sakê. Bột gạo nói chung an toàn cho những người cần có chế độ ăn kiêng gluten.

Chế biến và nấu ăn

Sản phẩm chủ yếu từ gạo là cơm. Gạo có thể nấu thành cơm nhờ cách luộc trong nước (vừa đủ) hay bằng hơi nước. Các nồi cơm điện rất phổ biến ở châu Á, đã đơn giản hóa quá trình này.

Gạo cũng có thể nấu thành cháo bằng cách cho nhiều nước hơn bình thường. Bằng cách này gạo sẽ được bão hòa về nước và trở thành mềm, nở hơn. Các món cháo rất dễ tiêu hóa và vì thế nó đặc biệt thích hợp cho những người bị ốm.

Khi nấu các loại gạo chưa xát bỏ hết cám, một cách thức nấu ăn giữ được các chất dinh dưỡng gọi là Cơm GABA hay GBR có thể sử dụng. Nó bao gồm việc ngâm gạo trong khoảng 20 giờ trong nước ấm (38 °C hay 100 °F) trước khi nấu. Quá trình này kích thích sự nảy mầm, và nó kích hoạt các enzym có trong gạo. Bằng cách này, người ta có thể thu giữ được nhiều axit amin hơn.

Sản xuất và thương mại toàn cầu

Sản xuất gạo toàn cầu  đã tăng lên đều đặn từ khoảng 200 triệu tấn vào năm 1960 tới 600 triệu tấn vào năm 2004. Gạo đã xay xát chiếm khoảng 68% trọng lượng thóc ban đầu. Năm 2004, ba quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu là Trung Quốc (31% sản lượng thế giới), Ấn Độ (20%) và Indonesia (9%).

Năm 2008, sản lượng lúa gạo của Trung Quốc đạt 193 triệu tấn, Ấn Độ 148 triệu tấn, Indonesia 60 triệu tấn, Bangladesh 47 triệu tấn, Việt Nam 39 triệu tấn, Thái Lan và Myanma cùng đạt 30,5 triệu tấn.

Các số liệu về xuất nhập khẩu gạo lại khác hẳn, do chỉ khoảng 5-6% gạo được buôn bán ở quy mô quốc tế. Ba nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới là Thái Lan (26% sản lượng gạo xuất khẩu), Việt Nam (15%) và Hoa Kỳ (11%), trong khi ba nhà nhập khẩu gạo lớn nhất là Indonesia (14%), Bangladesh (4%) và Brasil (3%).

Phân loại

Các giống lúa thông thường được phân loại theo cấu trúc và hình dạng hạt gạo của chúng. Ví dụ, một giống lúa thơm của Thái Lan cho loại gạo hạt dài và tương đối ít dính, do gạo hạt dài chứa ít amylopectin hơn so với các giống hạt ngắn. Các nhà hàng Trung Hoa thông thường đưa ra món cơm nấu bằng gạo hạt dài. Các loại gạo nếp là gạo hạt ngắn. Người Trung Quốc dùng gạo nếp để làm bánh nếp có tên gọi là 粽子 (tống tử). Gạo Nhật Bản là loại gạo hạt ngắn và dính. Gạo dùng để nấu rượu sakê là một loại gạo khác.

Các giống lúa Ấn Độ bao gồm gạo hạt dài và gạo thơm Basmati (gieo trồng ở phía bắc), gạo hạt dài và trung bình là gạo Patna và loại gạo hạt ngắn Masoori. Thóc ở Đông Ấn và Nam Ấn, thông thường được luộc trong các chảo lớn ngay sau khi thu hoạch và trước khi loại bỏ trấu; trong tiếng Anh gọi là parboiled rice (thóc luộc sơ). Sau đó người ta sấy khô và loại bỏ trấu. Nó thông thường có các vết đốm nhỏ màu đỏ và có hương vị khói từ lửa. Thông thường các loại thóc thô được dùng cho mục đích này. Nó giúp cho việc giữ lại các vitamin tự nhiên và giết chết các loại nấm mốc hoặc các chất gây ô nhiễm khác, nhưng dẫn tới có mùi kỳ dị. Loại gạo này dễ tiêu hóa và chủ yếu được những người lao động chân tay dùng. Tại miền nam Ấn Độ, nó được dùng để làm một loại bánh bao nhỏ có tên là idli.

Các giống gạo thơm có hương vị thơm đặc biệt; các giống đáng chú ý nhất bao gồm các loại Basmati, gạo Patna kể trên cũng như các giống lai từ Mỹ được bán dưới tên gọi thương phẩm Texmati. Nó là giống lai giữa Basmati và giống gạo hạt dài Mỹ đã gây ra nhiều tranh luận. Cả Basmati và Texmati có hương vị tương tự như bỏng ngô. Tại Indonesia còn có các giống đỏ và đen.

Các giống năng suất cao thích hợp để gieo trồng tại châu Phi và các khu vực khô cằn khác được gọi là các giống mới cho châu Phi (NERICA) cũng đã được tạo ra. Người ta hy vọng rằng các giống mới này sẽ tạo ra sự ổn định hơn nữa cho an ninh lương thực tại Tây Phi.

Các nhà khoa học cũng đang tìm cách tạo ra cái gọi là lúa vàng, là loại lúa biến đổi gen để tạo ra beta caroten, tiền thân của vitamin A. Điều này đã làm dấy lên sự tranh cãi lớn về việc lượng beta caroten có đáng kể hay không và lương thực biến đổi có đáng giá đến vậy hay không.

Các giống lúa lùn cho hai giống phổ biến nhất là O. sativa indica và O. sativa japonica, đã được công bố vào tháng 4 năm 2002. Lúa cũng đã được chọn lựa làm sinh vật mẫu để nghiên cứu sinh học của các loài cỏ thực thụ do bộ gen tương đối nhỏ của nó (khoảng 430 mega cặp cơ sở). Kết quả là lúa đã là loài sinh vật đầu tiên sđược hoàn thành bản đồ gen [4]. Lúa Basmati là bản mẫu chung cho phần lớn các dạng lúa.

Bình luận