Mít

Mít (danh pháp hai phần: Artocarpus heterophyllus) là loài thực vật ăn quả, mọc phổ biến ở Đông Nam Á và Brasil. Nó là cây thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), và được cho là có nguồn gốc ở Ấn Độ. Quả mít là loại quả quốc gia của Bangladesh.

Cây mít thuộc loại cây gỗ nhỡ cao từ 8 đến 15 m. Cây mít ra quả sau ba năm tuổi và quả của nó là loại quả phức, ăn được lớn nhất có giá trị thương mại, hình bầu dục kích thước (30-60) cm x (20-30) cm. Mít ra quả vào khoảng giữa mùa xuân và chín vào cuối mùa hè (tháng 7-8). Nó là một loại quả ngọt, có thể mua được ở Mỹ và châu Âu trong các cửa hàng bán các sản phẩm ngoại quốc. Sản phẩm được bán trong dạng đóng hộp với xi rô đường hay có thể mua ở dạng quả tươi ở các chợ châu Á. Các lát mỏng và ngọt cũng được sản xuất từ nó. Mít cũng được sử dụng trong ẩm thực của khu vực Đông Nam Á, trong các món ăn của người Việt Nam và Indonesia.

Gỗ của cây mít thuộc gỗ nhóm IV, đôi khi được sử dụng để sản xuất các dụng cụ âm nhạc như các loại mộc cầm, là một phần của gamelan ở Indonesia (một thể loại dàn nhạc bao gồm chiêng, cồng, trống, các loại nhạc cụ bằng các thanh kim loại hay gỗ).

Phân bổ

Hiện nay Cây Mít được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới như: Ấn Độ,  Bangladesh, Nepal, Sri Lanka , Campuchia , Việt Nam , Thái Lan, Malaysia,   Indonesia, và Philippines.

Cây mít cũng được tìm thấy trên khắp Châu Phi (như ở  Cameroon, Uganda, Tanzania, Madagascar, và Mauritius ), cũng như ở nhiều nước nhiệt đới Nam và Trung Mỹ như Brazil, Jamaica…

Quả mít và các sản phẩm từ quả mít là một mặt hàng thực phẩm phổ biến trên khắp các Châu lục khi giao thương Quốc tế ngày càng mở rộng. Tuy nhiên văn hóa ẩm thực từ quả mít và các sản phẩm từ quả mít phong phú nhất ở Nam Á và Đông Nam Á.

Ở Việt Nam cây mít đã được trồng trên khắp mọi miền đất nước từ lâu đời, trong đó có nhiều giống mít nổi tiếng như Mít nghệ, Mít mật, Mít dai, Mít ướt, Mít Tố Nữ…

Chăm sóc

1/ Thiết kế vườn trồng

- Vườn trồng mít phải thoát nước tốt trong mùa mưa, chống xói mòn để đảm bảo độ phì cho đất, quanh vườn thông thoáng hạn chế sâu bệnh.

Mít nghệ được nhiều nông dân huyện Long Thành trồng, thu về hơn 500 ngàn đồng/cây/năm.

- Nếu đất trồng có độ dốc thấp nên đào hố trồng có kích thước 40x40x40cm, trường hợp đất có độ dốc hơi cao đào hố 40x40x60cm (sâu 60cm).

- Tùy theo địa hình của đất cao hay thấp để đào mương thoát nước cho phù hợp nên đào mương phụ rộng và sâu từ 0,3 - 0,4m, mương chính đào rộng và sâu khoảng 0,5 - 0,7m.

2/ Cách trồng mít

- Nên trồng mít vào đầu mùa mưa vì cây con cần nhiều nước trong giai đoạn đầu, nếu trồng cuối mùa mưa thì phải có nước tưới trong mùa khô.

- Đất xấu, cằn cỗi nên trồng mít dày, khoảng 300 cây/hécta,  trong đó trồng cây cách cây 5m, hàng cách hàng 6m. Đất tốt nên trồng mít thưa chỉ khoảng 250 cây/hécta, cây cách cây 5m, hàng cách hàng 8m.

- Trước khi trồng bón lót mỗi gốc 10 - 20kg phân chuồng hoặc 5 - 6kg phân hữu cơ vi sinh với 0,5kg lân, 0,5kg vôi bột và 10 gram Furadan 3G. Đất có độ dốc thấp trồng mặt bầu ngang mặt đất, đất có độ dốc cao trồng mặt bầu thấp hơn mặt đất từ 20 - 30cm. Trước khi trồng cắt đáy bầu, cắt rễ đuôi chuột bị xoắn lại. Sau đó, cắm cọc để cố định cây con, nếu đất khô phải tưới và ủ ẩm cho cây.

- Trong 4 năm đầu cây còn nhỏ có thể trồng xen canh đậu, bắp, rau màu hoặc cỏ lá gừng vừa để chống xói mòn đất vừa tăng thêm thu nhập lấy ngắn nuôi dài.

3/ Chăm sóc

- Trong năm đầu tiên mỗi cây nên bón 1,5kg vôi bột; 10kg phân hữu cơ; 0,2kg ure; 0,4kg DAP và 0,3kg kali.

- Năm thứ 2 mỗi cây bón 1,5kg vôi bột; 10kg phân hữu cơ; 0,4kg ure; 0,7kg DAP và 0,6kg kali.

- Năm thứ 3 mỗi cây nên bón 1,5kg vôi bột; 10kg phân hữu cơ; 0,6kg ure; 0,9kg DAP và 0,9kg kali. Nếu lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm và bón phân qua đường ống thì từ năm thứ nhất đến năm thứ 3 lượng phân hóa học chia làm 10 lần bón/năm.

- Từ năm thứ 4 trở đi cây bắt đầu cho trái nhiều, sau khi thu hoạch bón mỗi gốc 20 - 30kg phân chuồng ủ hoai, 1kg vôi bột. Còn phân hóa học sau khi thu hoạch chia làm 3 lần để bón, mỗi lần cách nhau 10 ngày. Số lượng phân bón cho mỗi gốc khoảng 0,3kg ure; 0,2kg DAP; 0,15kg kali/lần. Đến thời điểm cây ra hoa bón 3 lần phân hóa học, mỗi lần cách nhau 10 ngày số lượng 0,15kg DAP; 0,1kg kali/lần. Lúc cây đậu trái và nuôi trái bón 0,8kg ure và 0,35kg kali/cây.

- Khi làm cỏ cho cây mít chú ý, rễ mít thường mọc nổi không cuốc sâu quanh gốc làm sẽ đứt rễ. Đặc biệt, trong giai đoạn đang cho trái nếu làm cỏ để đứt rễ dinh dưỡng bị xáo trộn, trái sẽ nhỏ, chất lượng giảm và đôi khi múi còn bị sượng. Nếu có điều kiện nên lắp đặt hệ thống tưới tiết kiệm và bón phân qua đường ống sẽ giảm được nhiều công tưới, bón phân hóa học, trong khi năng suất chất lượng trái tăng cao.

4/ Tỉa cành tạo tán

- Chỉ tỉa cành tạo tán khi cây mít đạt chiều cao khoảng 1m trở lên, khi cây chưa cho trái tỉa cành 2-3 lần/năm. Cây đã cho trái tỉa cành 1 năm/lần vào thời điểm thu hoạch trái xong.

- Cắt bỏ các cành gần sát mặt đất, cành tược, cành nhỏ mọc không đúng hướng, cành sâu bệnh. Giữ lại cành cấp 1 cách gốc khoảng 40cm trở lên, chọn các cành mọc theo các hướng khác nhau, cành trên cách cành dưới khoảng 40 - 50cm, tạo thành tầng không quá 5 cành cấp 1. Tỉa bỏ bớt cành cấp 2, cấp 3... cho cây thoáng nhằm chống sâu bệnh và tăng năng suất.

5/ Bảo quản và thu hoạch

- Cây mít cho trái rải vụ quanh năm, song vụ chính ở Đồng Nai vào tháng 6, 7. Thời gian từ lúc ra hoa đến lúc trái già khoảng 5 tháng, do đó có thể căn cứ vào màu sắc trái để thu hoạch. Trái mít già, các gai nở căng, chuyển từ màu xanh sang màu xanh vàng hoặc nâu nhạt, mủ lỏng và trong, vỗ kêu bồm bộp, để vận chuyển đi xa nên thu hoạch lúc trái già.

Hiện ở Đồng Nai có nhiều giống mít cho năng suất cao như: mít Viên Linh, mít Thái, mít nghệ, mít tố nữ... Song, nông dân nên trồng giống mít nghệ trong nước được tuyển chọn qua các cuộc thi trái ngon, giống tốt hoặc những giống mít trong nước có phẩm chất ngon được nhiều người ưa chuộng, đồng thời thích hợp để chế biến, sấy khô đóng gói xuất khẩu.

Bệnh

1. Bệnh thối gốc, chảy nhựa trên cây mít

Bệnh xảy ra trên các vườn mít quá ẩm ướt và có nhiều loại sâu hại chích hút nhựa cây, gây những vết thương và là cơ hội tốt cho nấm Phytopthora xâm nhập.

Bệnh thể hiện ở vùng gốc có nhiều vết loét, nước dịch từ bên trong chảy rỉ ra, vỏ vùng gốc bị thối từng mảng to, bề mặt lớp gỗ ẩm ướt và thâm đen. Lá vàng, rụng và cây chết. Thường khi phát hiện được thì bệnh ở tình trạng nặng, khó chữa trị.

Cách phòng hữu hiệu nhất là trồng cây trên đất cao ráo, thoát nước tốt. Bảo vệ các thiên địch để hạn chế mật độ sâu rầy gây hại, khi cần thiết dùng các loại thuốc hóa học có tính chọn lọc để phun xịt như Ridomyl, Aliette.

2. Bệnh thối nhũn cây mít

Cây con ở vườn ươm có độ ẩm cao, quá rậm rạp dễ bị bệnh và bệnh lây lan rất nhanh. Bệnh có thể do nấm Rizoctonia solani, Sclerotium, Pythium gây nên.

- Trên thân gốc và bề mặt vật liệu nuôi cây có nhiều hạch nấm tròn to, nhỏ dầy đặc và lây lan nhanh. Bệnh làm teo gốc, thân lá có đoạn tươi xanh và phần non chết gục như bị luộc trong nước nóng.
- Phòng bệnh:

+ Sử dụng phân hoai mục.
+ Tạo thông thoáng, khô ráo và thoát nước tốt.
+ Xử lý nguyên vật liệu trong vườn ươm bằng các loại thuốc như Kitazin, Rovral, Ridomyl ...

- Trị bệnh:

+ Viben C 50 BTN, Bonanza 100 DD, Score 250 EC, Tilt 250 ND.

3. Bệnh sâu đục thân, đục cành cây mít

Có tên Margronia, thành trùng đẻ trứng trên lá non, trái non sau đó đục vào thân cành. Xịt thuốc trừ sâu vào giai đoạn ra lá non, trái non như Cyperan 5 EC, 10 EC, Decis 2,5EC, Bian 40-50 EC, Basudin 50 EC.

4. Bệnh Sâu đục trái mít

Gây hại nặng trên mít làm giảm chất lượng và sản lượng. Thường ở các phần tiếp giáp các trái hay giữa trái tiếp giáp với thân, bị gây hại nặng nhất.Trái có thể bị hư hỏng hay bị rụng sớm.

Không nên dùng biện pháp xử lý thuốc hóa học mà dùng biện pháp sinh học để phòng trừ sự gây hại hay bao trái vào cuối giai đoạn trái rụng sinh lý.

5. Bệnh ngài đục trái mít

Có nhiều loài gây hại khác nhau, chúng chích hút vào ban đêm ở giai đoạn trái chín. Cách phòng trị giống như sâu đục trái.

6. Bệnh ruồi đục trái mít

Do loài dacus sp, đẻ trứng vào trái già, gây thối nhũn trái. Dùng chất dẫn dụ sinh học để diệt ruồi đực. Bao bọc trái hay xịt thuốc diệt ruồi như trebon 10 Nd, decis 25 ec..

7. Bệnh rầy, rệp hại mít

Có rất nhiều loài gây hại trên mít, chúng chích hút nhựa lá non, đọt non, trái làm lá quăn queo, cây chậm lớn, trái dị hình và kèm theo là nấm đốm bồ hóng tấn công làm giảm khả năng quang hợp của cây và trái không đẹp. Khi trồng ở nơi cao ráo thường bị rệp sáp tấn công ở phần gốc và rễ. Dùng các loại thuốc hóa học sau đây để trị rầy rệp khi điều tra có mật số cao: Bassan 50 EC, Supracide 40 EC, Basudin 50 ec...

Để bảo vệ tốt cây trồng nên áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp IPM+Thiết lập hệ thống canh tác hữu hiệu thường xuyên. Dùng biện pháp sinh học tăng cường thiên dịch, hạn chế dịch hại do sâu bệnh. Sử dụng thuốc hóa học khi cần thiết.

Xây dựng hệ thống dự báo sâu bệnh, thiên dịch, những điều kiện tự nhiên để có thể định hướng phù hợp tình hình sản xuất thực tế.
So với các loại cây ăn trái khác Cây Mít là cây dễ trồng, chịu hạn rất tốt, ít công chăm sóc, áp dụng quản lý dịch hại bằng phương pháp IPM tốt có thể không cần sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật, cho có năng suất cao, chất lượng ngon, thích hợp ăn tươi, chế biến và làm thức căn cung cấp cho ngành chăn nuôi, thủy sản, sau cùng là thu được khối lượng gỗ lớn và quý có giá trị kinh tế cao. Công nhân chăm sóc trực tiếp không bị tổn hại do nhiễm độc, người tiêu dùng không phải sợ bị ngộ độc do thuốc Bảo vệ thực vật tồn dư trong các sản phẩm.

Tác dụng y học

1. Tăng cường hệ miễn dịch

Mít là loại trái cây có nguồn vitamin C tuyệt vời. Vitamin C là loại chất giúp cơ thể chống hiện tượng nhiễm virus và nhiễm khuẩn. Vitamin C giúp tăng cường chức năng hệ thống miễn dịch bằng cách hỗ trợ chức năng của các tế bào máu trắng. Một chén nước ép từ mít có thể cung cấp cho cơ thể một số lượng lớn chất oxy hóa giúp bảo vệ cơ thể.

Một trong những tác dụng của quả mít là giúp chống và làm giảm các chứng viêm nhiễm, sưng tấy như viêm phế quản, hen suyễn, viêm phổi cấp, viêm võng mạc, viêm tuyến vú, viêm khớp, viêm loét trên da…Người mắc các chứng viêm nhiễm thường xuyên được khuyến khích bổ sung mít vào chế độ ăn uống lành mạnh hàng ngày.

2. Chống lại bệnh ung thư

Ngoài vitamin C, mít còn rất giàu các chất dinh dưỡng thực vật như ignans, isoflavones và saponins. Đây là những loại chất có đặc tính chống ung thư và chống lão hóa. Những loại chất dinh dưỡng thực vật có khả năng loại bỏ các gốc tự do gây ung thư ra khỏi cơ thể và làm chậm quá trình thoái hóa của tế bào, nguyên nhân dẫn ra các căn bệnh liên quan đến thoái hóa.

3. Giúp hệ tiêu hóa hoạt động đúng chức năng

Mít cũng chứa các chất có thuộc tính chống loét và rối loạn tiêu hóa. Bên cạnh đó, mít cũng chứa rất nhiều chất xơ, vì vậy chúng giúp ngăn ngừa táo bón và đi tiêu dễ dàng hơn. Loại chất xơ này cũng có tác dụng loại bỏ các màng nhầy bám ở ruột, từ đó giúp bạn giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư ruột già (đại tràng).

4. Duy trì sức khỏe cho đôi mắt và làn da

Mít có chứa nhiều vitamin A, một loại chất dinh dưỡng có tác dụng rất lớn trong việc duy trì sức khỏe của đôi mắt và làn da. Mít có tác dụng ngăn ngừa các bệnh liên quan đến mắt như thoái hóa điểm vàng và bệnh quáng gà.

5. Bổ sung năng lượng

Mít được coi như là một trái cây năng lượng do sự hiện diện của các loại đường như fructose và sucrose, những loại đường này giúp bạn bổ sung năng lượng gần như ngay lập tức. Mặc dù, mít là loại trái cây giàu năng lượng nhưng nó lại không chứa chất béo bão hòa, cholesterol. Vì vậy, nó là loại trái cây tuyệt vời để thưởng thức.

6. Phương thuốc để trị chứng cao huyết áp

Kali chứa trong mít được chứng minh là có tác dụng hạ huyết áp. Vì vậy, ăn mít thường xuyên là cách để làm giảm nguy cơ đau tim và đột quỵ.

7. Giúp xương chắc khỏe

Mít rất giàu magiê, một chất dinh dưỡng quan trọng trong việc hấp thụ canxi và kết hợp với canxi để giúp xương chắc khỏe, ngăn ngừa các rối loạn liên quan đến xương như loãng xương.

8. Ngăn ngừa thiếu máu

Mít cũng chứa nhiều chất sắt, giúp ngăn ngừa bệnh thiếu máu và kiểm soát việc giúp lưu thông máu trong cơ thể. Đối với những người ăn kiêng thì mít là loại trái cây tuyệt vời để ngăn ngừa tình trạng thiếu sắt mà không sợ bị béo phì.

9. Hỗ trợ giảm cân hiệu quả

Mít chứa ít calo hơn các loại trái cây khác, không có chất béo bão hòa và tinh bột nên rất tốt cho việc giảm cân. Đồng thời lượng chất xơ dồi dào trong mít sẽ giúp bạn thổi bay nguy cơ táo bón nếu bạn đang áp dụng chế độ giảm cân ngặt nghèo.

10. Giúp da sáng hồng, hạn chế nguy cơ nhiễm trùng da

Hàm lượng vitam A và các loại vitamin khác trong trái mít có tác dụng tăng cường cấu trúc làn da, làm chậm quá trình lão hóa da. Việc sử dụng mít hàng ngày với số lượng hợp lý sẽ giúp cải thiện tình trạng làn da bị thâm sạm do các tác nhân môi trường như khói bụi, ô nhiễm, vi khuẩn…Từ đó tăng cường sức đề kháng cho da, hạn chế nguy cơ da mắc các bệnh nhiễm trùng.

11. Kiểm soát huyết áp và tốt cho tim mạch

Mít là loại quả giàu hàm lượng kali (cứ 100 gram mít có khoảng 303 miligram kali), giúp cân bằng và ổn định huyết áp, đặc biệt là những người mắc chứng huyết áp cao dễ bị đột quỵ nguy hiểm tới tính mạng. Ngoài ra, ăn mít thường xuyên cũng giúp cải thiện cục bộ tuần hoàn máu, rất tốt cho tim mạch, tránh nguy bị cơ đột quỵ bất ngờ.

12. Nhanh lấy lại sinh lực sau khi ốm dậy

Trong các loại trái cây, mít được coi như loại quả tái tạo năng lượng. Bởi trong nó chứa các loại đường thiên nhiên tương tự như fructose và sucrose, giúp bồi bổ cơ thể, lấy lại sinh lực cho người mới khỏi ốm. Ngoài ra, các món ăn được chế biến từ mít non có tác dụng hòa can, bổ tỳ, lợi sữa, rất thích hợp cho phụ nữ sau khi sinh cơ thể bị suy nhược, ít sữa, chán ăn.

Giá trị kinh tế

Cây Mít là một loài cây quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam. Từ xưa, cây Mít cùng Chuối là loài 2 loài cây ăn quả được ưa chuộng, và cho nhiều giá trị kinh tế. Với Mít, thì đây là cây bóng mát ăn quả rất được ưa chuộng hiện nay.

Gỗ Mít cho giá trị kinh tế cao. Gỗ mít, nhất là tâm gỗ ở các cây to, là một loại gỗ quí, không những dùng trong xây dựng còn để làm dụng cụ, chế những đồ gỗ mỹ nghệ do thớ mềm, không nứt.

Cũng không nên bỏ qua ảnh hưởng tốt của mít đến môi trường. Do cây to, cao, sống lâu, chịu hạn, chịu nắng tốt, tán lá dày, xanh quanh năm, bóng râm có giá trị cải thiện môi trường cao đặc biệt ở nông thôn, mùa nắng, giữa các ruộng lúa thiếu bóng cây. Ngày nay ở các khu đô thị, việc trồng mít cũng rất được ưa chuộng.

Cây Mít là loại cây dễ tính được trồng nhiều nơi. Nếu trồng đại trà thì phải tuân thủ theo quy trình kỹ thuật thích hợp để chi phí đầu tư thấp, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Hiện nay có nhiều giống mít tốt như: cây Mít nghệ cao sản, cây Mít ruột đỏ...

Ở Việt Nam có thể trồng mít hầu hết các nơi, kể cả những vùng đất nghèo dinh dưỡng. Chọn đất trồng ở nơi khô ráo thoát nước tốt, không bị ngập úng kéo dài, có đủ nước tưới để cây Mít sinh trưởng.

Phân loại

Việt Nam hiện có nhiều giống mít khác nhau, do đó về năng suất, chất lượng (độ ngọt, mức độ ngon) không giống nhau. Người ta tạm chia thành hai loại mít: Mít có múi khô (mít dai) và mít có múi ướt (mít mật, mít múi mềm).

Mít cổ truyền/mít địa phương

Giống mít này được trồng phổ biến, lâu đời ở các địa phương. Cây cao, búp và lá non không có lông, quả to, nặng từ vài ba kg đến 10- 20kg.

Mít Nghệ

Giống mít Nghệ cao sản là giống chịu khô hạn tốt, chống được giông bão, quả to, múi thơm, giòn, ngọt, thích hợp ăn tươi, hoặc chế biến xuất khẩu. Ngoài ra có thể sử dụng làm thức ăn chăn nuôi và lấy gỗ… Loại mít này dễ trồng, ít công chăm sóc, ít phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật… và cho năng suất cao.

Mít Tố nữ

Mít Tố nữ cao khoảng 20m và có thể cho ra quả hai lần/năm. Cây khoảng 3- 5 tuổi thì bắt đầu cho quả. Cây sai có đến hàng trăm quả, mùa mít chín kéo dài đến 6 tuần. Cây mít Tố nữ không khác mít thường nhiều, nhưng trên lá và trên ngọn non có những lông màu nâu dựng đứng. Vỏ có xơ dính liền, có thể bổ bằng một nhát dao dọc rồi tách múi vỏ dễ dàng, múi thường dính vào lõi.
Quả có dạng hình trứng dài, kích thước chiều dài khoảng 22- 50cm, bề ngang khoảng 10- 17cm, trọng lượng từ 1- 6kg, thông thường dưới 2kg, múi màu xanh, vàng hoặc cam, bên trong có hạt lớn. Mùi vị mít Tố nữ gioongs mít ướt pha với mùi Sầu riêng. Vỏ mít dầy, dẻo với gai đẹp, tiết diện hình lục giác, tương tự vỏ mít ướt.

Mít Thái Changai

Mít có thời gian sinh trưởng ngắn, cho thu hoạch nhanh, năng suất cao, đặc biệt phù hợp với vùng đất đồi. Cây có thể cao 20m; lá dài, rộng, mọc cách, bìa lá thẳng; hoa chùm, đơn tính, cuống to, không cánh, dính vào nhau thành cụm hoa kép. Hoa đực chín, sau đó rụng, hoa cái được thụ phấn phát triển thành quả, quả kép.

Mít thích hợp với khí hậu nóng ẩm, chịu hạn tốt, nhưng không chịu được ngập úng. Thích ứng nhiều loại đất: Đổ Bazan, phù sa, đất xám…

Mít Thái là cây cho quả sớm. Ở những vùng không lạnh, mít cho quả sau khi trồng từ 8- 12 tháng. Cây mọc khỏe, phát triển nhanh, quả rất sai và nặng từ 6- 12kg/quả, cá biệt có quả nặng tới 15kg. Cây ra quả quanh năm, trên cùng một cây, có quả chín, có quả đang ra. Múi có thịt vàng đậm, ít xơ, giòn, ráo, vị ngọt đậm và thơm mát. Cây trưởng thành có thể cho từ 100- 150 quả/cây.

Mít không hạt

Mít có mùi vị thơm ngon, múi và xơ có màu vàng, độ dày múi đồng đều, bên trong không có hạt, cùi nhỏ, rất ít xơ, tỷ lệ ăn được trên 90%. Năng suất cao, trọng lượng quả trung bình 9- 10kg, quả lớn 13- 15kg, khi chín vỏ có màu vàng xanh, quả cân đối. Cây con phát triển mạnh, cành mọc dày, phân bố đồng đều quanh thân chính, lá xanh bóng, lá non cuộn tròn tựa lá chè xanh, mép lá khi non có răng cưa rất rõ.

Mít có vỏ mỏng, hàm lượng đường trong quả khi rất cao. Khi quả già vỏ màu vàng xanh, gai nở, các đường cjir xung quanh gai chuyển thành màu vàng sẫm. Mít có hương vị đặc biệt, ngọt lịm, hương thơm.

Thời gian trồng đến cho quả từ 14- 18 tháng, nếu chăm sóc tốt, đầy đủ dinh dưỡng và nước tưới, mít sẽ cho quả sau 10- 12 tháng.

Mít Ruột đỏ

Là giống mít của Thái Lan, cho giá trị kinh tế rất cao, không chỉ có ưu điểm là lạ mắt (khi chín có màu như củ cà rốt), ruột đỏ mà còn rất ít xơ, múi to, cơm dầy, thơm nhẹ, vị ngọt vừa phải nên được thị trường rất ưa chuộng. Bên cạnh đó, mít cho quả rất to, bình quân 10kg/quả, nếu chăm sóc tốt quả có thể năng từ 15- 17kg.

Mít ruột đỏ lớn nhanh, gỗ cứng, phù hợp với vùng đất thịt pha cát, có khả năng chịu hạn tốt và ít sâu bệnh. Thời vụ trồng thích hợp là từ tháng 5 đến tháng 7 dương lịch.

Mít Viên linh

Mít có xuất xứ từ Thái Lan, dễ trồng và ít công chăm sóc, cây sinh trưởng nhanh, ít sâu bệnh, thích nghi vùng đất không bị ngập úng kéo dài, chịu hạn và phèn mặn trung bình. Sau khi trồng 2- 3 năm, cây cao khoảng 4m, đường kính tán trên 3m. Cây có độ phân cành rộng. Số hoa trên chùm 2- 4 hoa, số quả trên chùm 1- 2 quả (tùy theo tình trạng sinh trưởng của cây mà để quả trên chùm nhiều hay ít). Quả to, trọng lượng bình quân từ 7- 10kg, đặc biệt có quả đạt từ 15- 20kg, khi chín có màu xanh vàng, tương đối đều, gai nở.

Quả mít Viên linh có hình dáng đẹp, chất lượng ngon và năng suất ổn định, vỏ mỏng (10mm), thịt có màu vàng tươi, vị ngọt và ít thơm, rất ít xơ, độ brix đạt 22,75%, tỷ lệ cơ đạt 50%. Thịt khô, dai, ít nước, có thể sử dụng trong công nghệ chế biến, hoặc ăn tươi rất ngon, ít ngán. Mít cho quả quanh năm, thời gian từ khi trổ bông đến khi thu họach khoảng 4 tháng.

Bình luận